The more I study, the more I know. The more I know, the more I forget. The more I forget, the less I know . So Why Study?

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

CẤU TRÚC THÔNG TIN VÀ CẤU TRÚC ĐỀ THUYẾT TRONG DỊCH THUẬT

CẤU TRÚC THÔNG TIN VÀ CẤU TRÚC ĐỀ THUYẾT TRONG DỊCH THUẬT
INFORMATION STRUCTURE AND THEMATIC STRUCTURE IN TRANSLATION
Nguyễn Phước Vĩnh Cố
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Việc hiểu biết các khía cạnh dòng thông tin biểu hiện dưới dạng đề/thuyết, tin cũ/tin mới hoặc tính năng động giao tiếp là quan trọng trong dich thuật và giảng dạy ngôn ngữ. Vì vậy, bài báo trình bày tóm tắt 2 cách tiếp cận về dòng thông tin (đường hướng Halliday và quan điểm của Trường phái Praha) nhằm cung cấp cho người dịch nói riêng và sinh viên ngoại ngữ nói chung sự hiểu biết cơ bản với ít nhất là 1 trong 2 mô hình nói trên. Bài báo cũng thảo luận một số chiến lược do các nhà ngôn ngữ học gợi ý nhằm giải quyết “độ căng” giữa chức năng cú pháp và chức năng thông tin trong dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ.
ABSTRACT
An awareness of aspects of information flow represented in terms of theme/rheme, given/new or communicative dynamism is important in translation and language teaching. Therefore, the paper briefly presents the two approaches to information flow (the Hallidayan approach and the Prague School one) to provide translators in particular and students of foreign languages in general with basic familiarity with at least one of the major models. The paper also discusses some strategies suggested by a number of linguists for resolving the tension between syntactic and communicative functions in translation and language teaching.
1. Giới thiệu
Việc nghiên cứu cấu trúc thông tin (CTTT) và cấu trúc đề-thuyết (CTĐT) trong văn bản đã được nhiều nhà ngôn ngữ khác nhau trên thế giới đề xướng và bàn luận nhiều (Firbas, dẫn theo Mona Baker [1], Halliday [6], Brown và Yule [2] ; Jacobs [9] Lý Toàn Thắng [13] Cao Xuân Hạo [4] …v.v ) Trong số những nhà ngôn ngữ này, khi nói đến CTTT và CTĐT, người ta thường nhắc đến Halliday và Firbas. Halliday luôn khẳng định ít ra là ở tiếng Anh sự phân biệt đề-thuyết được nhận biết qua trật tự chuổi của các thành phần mệnh đề. Phần “đề” đứng trước; phần “thuyết” đứng sau. Firbas thuộc trường phái Praha, là một trong những người đi tiên phong trong việc nghiên cứu sự tương tác giữa chức năng cú pháp và chức năng thông tin (tin cũ – tin mới, tính năng động giao tiếp…) Những vấn đề này cũng được một số nhà lý thuyết dịch nói đến nhưng khá sơ lược (Peter Newmark [15], Hatim và Mason [8] , Mildred Larson [11] … Đáng chú ý là Mona Baker [1] đã dành một chương để miêu tả, phân tích hai cấu trúc này rất chi tiết và rõ ràng. Tuy nhiên, CTTT và CTĐT xét từ góc độ dịch thuật lại ít được chú ý ở tiếng Việt. Chính vì vậy bài báo sẽ thảo luận hai quan điểm nói trên dựa phần lớn vào những nghiên cứu của Mona Baker và đặc biệt chú trọng đến việc ứng dụng của chúng trong dịch Anh – Việt (A-V) và Việt – Anh (V-A). Phần cuối bài báo giới thiệu một số chiến lược do các nhà ngôn ngữ gợi ý nhằm giải quyết “độ căng” giữa chức năng cú pháp và chức năng thông tin trong dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ.
2. Quan niệm của các nhà ngôn ngữ về CTTT
Theo Brown và Yule [2,153] CTTT là đơn vị nhỏ nhất của kết cấu diễn ngôn: những đơn vị nhỏ có tính cục bộ ở cấp độ cụm từ hay mệnh đề. Từ điển “Longman” về giảng dạy ngôn ngữ và ngôn ngữ học ứng dụng có cái nhìn bao quát hơn về CTTT: “ việc sử dụng trật tự từ, ngữ điệu, trọng âm và các biện pháp khác để chỉ ra thông tin biểu thị bởi một câu phải được hiểu như thế nào” [19,180]. Halliday [7,38] cho rằng : trong mọi ngôn ngữ mệnh đề đều có đặc tính của một thông tin. Với quan niệm này, Halliday thừa nhận mệnh đề có chức năng thông tin chứ không phải một chuỗi thành phần mang tính chất ngữ pháp và từ vựng. Ngoài tổ chức của một mệnh đề dưới dạng các thành phần như chủ ngữ – tân ngữ và tác thể – đối thể, một mệnh đề còn là một tổ chức tương tác phản ánh mối quan hệ giữa người nói và người nghe. Người ta có thể phân tích mệnh đề thông tin theo hai loại cấu trúc: a) cấu trúc đề thuyết (thematic structure), b) cấu trúc thông tin (information structure). Nhìn chung có hai đường hướng chính. Đường hướng Halliday phân đoạn đề thuyết tách rời khỏi tin cũ -tin mới. Những nhà ngôn ngữ theo trường phái Praha lại phân đoạn đề-thuyết gắn liền với tin cũ – tin mới trong CTTT.
3. Đường hướng theo Halliday về dòng thông tin
3.1. Cấu trúc đề-thuyết: đề ngữ và thuyết ngữ
Theo quan điểm này [7,38], [14,20], một mệnh đề thông tin có hai thành phần: phần đầu được gọi là “đề”, có hai chức năng: a) làm điểm định vị bằng cách nối với chuổi diễn ngôn phía trước để duy trì điểm nhìn mạch lạc, b) làm điểm khởi đầu bằng cách nối kết và góp phần phát triển các chuổi tiếp theo. Phần thứ hai là “thuyết”: là thành phần quan trọng nhất trong mệnh đề thông tin vì nó trình bày chính thông tin mà người nói muốn chuyển tới người nghe. Xin xem ví dụ:
I can’t stand the noise.
Tôi– không thể chịu đựng tiếng ồn đó.
Đề –thuyết
3.2. Cấu trúc đề-thuyết: chuỗi đánh dấu và không đánh dấu
Sự lựa chọn đề liên quan đến việc chọn một thành phần mệnh đề làm “đề”. Các thành phần của một mệnh đề chính là: chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, bổ ngữ và trạng ngữ. Theo mô hình của Halliday [7,39,45,49] sự lựa chọn đề được biểu thị bằng cách đặt một trong những thành phần nói trên ở vị trí đầu của mệnh đề. Mona Baker [1,129] cho rằng sự lựa chọn đề luôn có nghĩa vì nó cho thấy sự khởi đầu của người nói hay người viết. Một số lựa chọn có nghĩa hơn các lựa chọn khác vì chúng được đánh dấu hơn. Nghĩa, sự
lựa chọn, tính đánh dấu là các khái niệm có tính tương liên, lấy “tính từ” và “trạng ngữ” trong tiếng Anh làm ví dụ. Nếu tính từ đặt trước danh từ trong tiếng Anh thì điều này có nghĩa là nó đứng ở vị trí ít có nghĩa vì đó không phải là kết quả của sự lựa chọn nhưng việc đặt một trạng ngữ chỉ nơi chốn, thời gian ở đầu mệnh đề lại mang nghĩa nhiều hơn ở giữa hay cuối mệnh đề vì đấy là kết quả của sự lựa chọn. Vậy, “đề được đánh dấu” là gì? Theo Halliday [dẫn the Carl James 10, 110], tính đánh dấu là một khái niệm được các nhà ngôn ngữ dùng để ám chỉ sự lệch chuẩn (markedness is a concept used by linguists to refer to departure from the norm) Ví dụ, trong tiếng Anh có thể đặt một bổ ngữ hay vị ngữ ở vị trí đầu trong một mệnh đề (nhưng không phổ biến) như: “Beautiful were her eyes”,“I knew he was going to cause trouble and cause trouble he did”. Một bổ ngữ/ vị ngữ ở vị trí này được đánh dấu cao và được lựa chọn cụ thể để làm nổi bật một thành phần riêng biệt làm chủ đề của mệnh đề hay điểm xuất phát, hơn nữa đây là sự lựa chọn có nghĩa của người nói/ người viết trong quá trình giao tiếp vì vậy việc hiểu biết cấu trúc đánh dấu và không đánh dấu thật sự rất cần thiết đối với người dịch. Các nhà ngôn ngữ theo Halliday nhận dạng ba đề được đánh dấu trong tiếng Anh. a) đề ở vị trí đầu câu b) đề vị ngữ c) đề nhận dạng.
a. Đề ở vị trí đầu câu (fronted theme)
Theo Greenbaum và Quirk [6, 407], vị trí đầu câu (fronting) đòi hỏi có một đề được đánh dấu bằng cách chuyển một thành phần mệnh đề lên vị trí đầu mà thành phần này bất thường ở vị trí đó, lấy một cấu trúc không được đánh dấu trong tiếng Anh làm ví dụ. “The book received a great deal of publicity in China [1,132] và từ câu này ta bắt đầu từ một cấu trúc ít đánh dấu nhất (least marked) đến một cấu trúc được đánh dấu nhiều nhất (most marked). Các thành phần đề đầu câu được in đậm.
a.1 Vị trí đầu câu của trạng ngữ chỉ thời gian hoặc nơi chốn
- In China the book received a great deal of publicity.
Đây là cấu trúc được đánh dấu nhưng không được đánh dấu cao vì trạng ngữ vốn có vị trí linh hoạt trong tiếng Anh. Trong tiếng Việt cũng vậy, nhiều nhà ngôn ngữ cho rằng trạng ngữ có thể đứng ở ba vị trí khác nhau (đầu câu, giữa câu và cuối câu) nhưng vị trí phổ biến nhất là đầu câu. Vậy làm thế nào dịch đúng trạng ngữ được đánh dấu của tiếng Anh? Phan Ngọc [17, 84] cho rằng: “Trật tự trong một câu trung hòa tức là câu chỉ thông báo sự việc, không có thêm một ý định chủ quan nào của người nói, không có màu sắc tu từ sẽ được bố trí theo thứ tự: thời gian – vị trí, (chủ – vị – bổ ) công cụ. Ví dụ: “Hôm qua, ở Thanh hoá, dân quân ta đã bắn rơi hai máy bay địch bằng súng trường”. Theo Phan Ngọc, nếu muốn nêu bật thời gian/nơi chốn thì đưa chúng xuống sau bổ ngữ. Theo quan điểm này, cấu trúc được đánh dấu trên phải dịch là: Cuốn sách đã được quảng cáo rầm rộ tại Trung Quốc”. Vị trí đầu câu của trạng ngữ tiếng Anh cũng có thể biểu thị tính tương phản. Trong trường hợp này, nó sẽ được dịch “Ở Trung Quốc thì cuốn sách mới được quảng cáo rầm rộ”. Quan trọng hơn là việc đề hóa trạng ngữ chỉ nơi chốn/ thời gian cũng rất phổ biến ở một số kiểu văn bản trong tiếng Anh vì việc đề hóa này tạo ra phương pháp phát triển văn bản. Brown và Yule [2,132] nêu rõ rằng
truyện trinh thám thường đề hóa các trạng ngữ chỉ thời gian, còn sách quảng bá du lịch lại sử dụng một cách có hệ thống các trạng ngữ nơi chốn làm đề. Ta không mấy ngạc nhiên trước những đoạn trích từ một truyện trinh thám vốn thường đề hoá các trạng ngữ chỉ thời gian. Xin xem ví dụ:
- Late that afternoon she received a reply paid telegream …
- Then he went on…
- In the meantime she would be the better of professional aid
…  An  hour  later  a  pleasant-looking  middled-aged  woman  arrived  and  took
charge.
Nguồn: dẫn theo Brown và Yule trong “Discourse Analysis”, [2,131]
Và việc đề hóa trạng ngữ nơi chốn làm “đề” trong một cuốn sách quảng bá du
lịch. Xin xem ví dụ.
- On some islands, it is best if you…
- In Greece and Turkey, you are met at the airport …
- In all other places, we make bookings …
- In some centers, we have local agents …
Nguồn: dẫn theo Brown và Yule trong “Discourse Analysis”, [2,132]
Theo Hatim và Mason [8,222], những vấn đề vừa nêu liên quan đến công việc của những người nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa vì rõ ràng các xã hội khác nhau sử dụng các phương tiện khác nhau để cấu trúc diễn ngôn của mình.
a.2 Vị trí đầu câu của tân ngữ hoặc bổ ngữ
- Tân ngữ: A great deal of publicity the book received in China.
- Bổ ngữ: well -publicized the book was.
Vị trí đầu câu của tân ngữ và bổ ngữ được đánh dấu hơn vị trí đầu câu của trạng ngữ trong tiếng Anh vì tân ngữ và bổ ngữ nói chung đều có vị trí tương đối cố định. Tuy nhiên không giống như trạng ngữ, việc đặt một tân ngữ/bổ ngữ ở vị trí đầu câu không tạo ra phương pháp phát triển văn bản. Ở tiếng Anh, hiệu quả của việc đề hóa tân ngữ [1, 134] là tạo ra sự tương phản và nhấn mạnh thái độ của người nói với thông tin. Ví
dụ:
I think I get on with her very well but him I really cannot bear. [12,224] People like that I just can’t stand.[20,503]
Điều tương tự cũng xảy ra ở tiếng Việt.
Những cuộc vui ấy, chị còn nhớ rành rành. [5,338] Tiền thì chúng tôi không dám nhận. [13,120]
Ở tiếng Anh lẫn tiếng Việt , vị trí đầu câu của tân ngữ biểu thị cái đã biết. Tính chất đã biết của nó được thể hịên bằng: định ngữ, mệnh đề, các danh từ riêng, các đại từ nhânxung
                           Bảng 1. Vị trí đầu câu của tân ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Tiếng Anh Tiếng Việt
1. People like that I just can’t stand. 1. Ngôi nhà này, qua mới cất lại đó.
2. All the information which you need I am putting in the post today. 2. Cái giấy tôi đánh máy dở, loong toong có để bên bàn ấy không?
3.Mary I believe. 3. Cửu trùng đài đến nay không ai dựng nỗi.
4.Him I trust. 4. Anh ấy tôi đã ra sức chiều chuộng.
Khi dịch tân ngữ được đề hóa từ Anh sang Việt, cần lưu ý:
Trường hợp nhấn mạnh thái độ người nói, động từ thường có các từ ngữ phụ đi kèm: “ấy”, “được”, “phải” … ví dụ:
•      Làng tôi, anh biết rồi đấy.
•      Việc này tôi làm được.
•      Thù này tôi phải trả.
Trường hợp tương phản nên dùng từ “thì” vì về nguyên tắc sự tương phản ở tiếng Việt được tạo ra bằng cách “đánh dấu tân ngữ” chủ yếu bằng tiểu từ “thì” hoặc bằng ngữ điệu [13, 120]
Trường hợp bổ ngữ đứng đầu câu vẫn thấy ở tiếng Anh và tiếng Việt nhưng lại không phổ biến và cũng được nhấn mạnh hơn so với trật tự thông thường.
Tiếng Anh: Intelligent she may be but omniscient she is not.
Tiếng Việt: Thật vĩ đại cái trầm lặng đầy tin tưởng của những con người.
a.3 Vị trí đầu câu của vị ngữ
Vị ngữ: They promised to publicize the book in China , and publicize it they did. Trong tất cả lựa chọn đề ở tiếng Anh, đây là sự lựa chọn được đánh dấu nhiều
nhất. Ngoài việc đặt vị ngữ đầu câu, sự lựa chọn này liên quan đến việc sắp xếp lại các
thành phần mệnh đề và điều chỉnh hình thái nhóm động từ. Các ví dụ có vị ngữ đặt đầu câu có tần số xuất hiện khá thấp:
You hired me to protect you, Miss Porter, and protect you I shall. ( Cô thuê tôi bảo vệ cô, thưa cô Porter và tôi sẽ bảo vệ cô.)
“Trích từ phim hoạt hình “Tarzan 2” do hãng Walt Disney phát hành DVD (video)”
Việc dịch một cấu trúc có vị ngữ đặt đầu câu “protect you I shall” sang tiếng
Việt “tôi sẽ bảo vệ cô”. Theo chúng tôi, người dịch đã không giữ được sự nhấn mạnh đặc biệt được ở cấu trúc đánh dấu ở ngôn ngữ gốc. Tuy nhiên, thật khó cho người dịch sử dụng một thủ pháp có sẵn để giải quyết sự nhấn mạnh gắn liền với vị ngữ đặt đầu câu ở tiếng Anh. Tuy nhiên, theo chúng tôi điều có thể làm được là có thể dùng từ “nhất định”/ “chắc chắn” trước động từ bảo vệ (nếu hình thái động từ là tương lai). Nếu hình thái động từ ở tiếng Anh là quá khứ, ta có thể dùng từ “thực sự”/ “quả vậy” trước động từ. Việc làm này có thể khiến cho các câu dịch ở tiếng Việt sẽ tương tự như “and I shall certainly protect you” và “and they did in fact publicize it” ở tiếng Anh.
Ở tiếng Việt cũng có cấu trúc có chứa động từ đứng đầu câu nhưng thường có
động từ “là” / “có” nằm giữa động từ và chủ ngữ.
- Ra sân bay đón đoàn có các đồng chí.
- Đi đầu đoàn biểu tình là công nhân.
Cấu trúc có chứa động từ đứng đầu câu trong tiếng Việt (có thể dịch sang tiếng Anh bằng cấu trúc tương đương như : vị ngữ hóa (có thể là một động từ – ing/tính từ + be + chủ ngữ.
Bảng 2. Cu trúc có chứa động từ đứng đầu câu trong tiếng Việt và cấu trúc dịch tương đương tiếng Anh
Tiếng Việt
Tiếng Anh
Động từ + là/ có + chủ ngữ Predication + be + subject
1.Tham  gia  đàm  phán  về  phía  ViệtNam có X, Y, Z. 1.Taking part in the talks on the Vietnamese side were X, Y, Z.
2.  Hiện  diện  trong  buổi  họp  có  Thủtướng và toàn thể thành viên Quốc hội. 2.  Present  at  the  meeting  were  the  PrimeMinister and all members of the Parliament.
b. Đề vị ngữ (predicated theme)
Đề vị ngữ liên quan đến việc sử dụng “cấu trúc -it” (it – structure) còn gọi là cấu trúc chêm xen (cleft structure) để đặt một thành phần gần đầu mệnh đề. Xin xem các ví
dụ:
It was the book that received a great deal of publicity in China. It was a great deal of publicity that the book received in China. It was in China that the book received a great deal of publicity .
Đề vị ngữ là một cấu trúc đánh dấu cho phép người nói/người viết chọn một thành phần như là chủ ngữ vốn là một đề không được đánh dấu của câu tường thuật (declarative clause) tiếng Anh thành 1 đề được đánh dấu. Các cấu trúc đánh dấu nói trên có thể dịch sang tiếng Việt bằng cách dùng từ “chính”, từ chuyên đánh dấu phần thuật đề (thuyết ngữ) đi trước trong tiếng Việt. Cũng như các đề đánh dấu khác, đề vị ngữ thường hàm ý tương phản 1. “It was in China that …” thường gợi ý rằng ở Trung
Quốc thì cuốn sách mới được quảng cáo rầm rộ (nơi khác thì không). Trong trường hợp đó, câu dịch sẽ là “Chính ở Trung Quốc thì cuốn sách mới nhận được sự quảng cáo rầm rộ”               
c. Đề nhận dạng (identifying theme)
Đề nhận dạng cũng tương tự như đề vị ngữ. Thay vì sử dụng “cấu trúc – it” , đề nhận dạng đặt một thành phần ở vị trí đề, biến thành phần này thành một danh hoá (nominalization) dùng cấu trúc – Wh hay còn gọi là cấu trúc chêm xen giả (pseudo-cleft structure) như “What the book received in China was a great deal of publicity” (Điều cuốn sách nhận được tại Trung Quốc là sự quảng cáo rầm rộ). Một trong những chức năng quan trọng của 2 cấu trúc trên là báo hiệu thông tin và cả 2 đều đánh dấu nhưng khá phổ biến trong tiếng Anh vì chúng có thể cung cấp một chiến lược đề hoá nhằm khắc phục sự hạn chế của trật tự từ lại cho ta biết vị trí tin cũ – tin mới mà không phụ thuộc vào ngữ điệu. Tuy nhiên sự phân biệt là đề vị ngữ thành phần đề được xem là tin mới thì ở đề nhận dạng thành phần đề được xem là tin cũ. Dấu nhấn hay trọng âm cũng cung cấp một tín hiệu về vị trí thông tin trong tiếng Anh nói, vì lẽ đó đề vị ngữ và đề nhận dạng thường có khuynh hướng phổ biến trong văn viết hơn văn nói. Trái lại các hình thái tương đương với 2 cấu trúc này như “chính”, “cái mà”/”điều mà …là…” được dùng trong văn nói cũng như văn viết ở tiếng Việt, nơi trọng âm vốn thường không được xem là một phương thức cho biết vị trí thông tin hoặc nếu có cũng bị “lấn át” bởi thanh điệu.
3.3 Cấu trúc thông tin: tin cũ (given)-tin mới (new)
Đề và thuyết là hướng tới người nói (speaker-oriented) . Đề là cái người nói / viết chọn làm điểm xuất phát. Thuyết là cái người nói/ viết nói về đề. Trái lại, thông tin cũ -thông tin mới lại hướng về người nghe (hearer-oriented). Thông tin cũ là cái mà người nói/người viết cho là người nghe/người đọc đã biết. Thông tin mới là cái người nói/người viết cho là người nghe/ người đọc chưa biết. Cần lưu ý CTTT cũng như CTĐT là một đặc điểm thuộc ngữ cảnh chứ không phải hệ thống ngôn ngữ. Ta có thể quyết định thành phần nào là tin mới, thành phần nào là tin cũ, trong một ngữ cảnh tình huống/ngôn ngữ. Chẳng hạn, câu “Nam mở cửa”. Có thể dùng trả lời nhiều câu hỏi khác nhau và tương ứng sẽ có CTTT khác nhau.
- Ai mở cửa ? Nam mở cửa.
- Nam làm gì? Nam mở cửa.
- Nam mở gì ? Nam mở cửa.
- Chuyện gì vậy? (Thằng) Nam mở cửa. Phần in đậm là phần chứa thông tin mới . Nguồn: Ngôn ngữ số 7 năm 2000 [14]
Tuy nhiên trong văn viết trật tự phổ biến của CTTT là tin cũ đặt trước tin mới.
Ưu điểm dễ nhận thấy của cấu trúc này là “dễ hiểu” và “dễ gợi nhớ”. Nguyên tắc đặt tincũ trước tin mới cũng ảnh hưởng đến một nguyên tắc khác: nguyên tắc xem trọng phần cuối (end-weight). Nói một cách khác, cùng một nguyên tắc khiến cho người nói/người viết đặt tin cũ trước tin mới đồng thời khiến người nói/người viết đặt cấu trúc “dài hơn”, “nặng hơn” cuối mệnh đề như ở một ví dụ sau: Wuirt’s researches led to a new reaction which still bears his name [18,98] (Các nghiên cứu của Wuirt đã dẫn đến một phản ứng mới cho đến nay vẫn mang tên ông).
Có vẻ như có một nguyên tắc trong tiếng Việt tương tự như nguyên tắc xem trọng phần cuối. Theo nguyên tắc 2 này chủ ngữ thường được lược đi vốn rất phổ biến trong văn bản khoa học tiếng Việt để biểu đạt ý nghĩa nhân xưng khái quát như ví dụ sau: Đến năm 2000, thanh toán một số bệnh dịch và bệnh xã hội nguy hiểm như: bại liệt, uốn ván, sởi, hạch hầu, ho gà, bệnh phong, bệnh lao, bệnh sốt rét, bệnh bướu cổ và đần độn”. Vấn đề sẽ nảy sinh trong dịch thuật khi một nguyên tắc “end-weight” có vẻ như “đụng độ” với các nguyên tắc cơ bản trong ngôn ngữ dịch (trong trường hợp này là tiếng Anh) vốn liên quan đến việc đặt chủ ngữ trước vị ngữ. Ví dụ trên (câu không có chủ ngữ) khi chuyển sang tiếng Anh thường được gợi ý sử dụng cấu trúc bị động [3,34] và sẽ được dịch “Some epidemic diseases and fatal social diseases such as polio, tetanus, measles, diphtheria, whooping cough, leprocy, tuberculosis, malaria, goiter, and cretinism will have been eradicated by the year 2000”. Cần lưu ý rằng bằng cách trung thành với nguyên tắc chủ ngữ trước vị ngữ, người dịch đã bỏ qua nguyên tắc xem trọng phần cuối. Kết quả là câu dịch không tự nhiên và dễ dàng nhận thấy không “Anh” chút nào. Câu dịch gồm một chủ ngữ “nặng” (dài) và một động từ “rất nhẹ” (ngắn). Chúng ta có thể giải quyết thoả đáng mâu thuẫn giữa hai nguyên tắc này bằng cách chuyển cấu trúc thụ động sang chủ động và có thể sử dụng các chủ ngữ như: “we”/ “the year 2000”/ “the city” / “the government will have eradicated epidemic diseases and fatal social diseases such as…
4. Quan điểm của trường phái Praha về dòng thông tin
4.1. Lý thuyết chức năng câu (Functional Sentence Perspective, viết tắt là FSP)
Lý thuyết chức năng câu (FSP) do một nhóm nhà ngôn ngữ Tiệp Khắc đề xướng vào những năm 30 [dẫn theo Halliday 7,315], bắt đầu từ Mathesius về sau có Danes, Firbas… Quan điểm này về đề-thuyết và tin cũ-tin mới khá khác biệt với đường hướng Halliday. Firbas [dẫn theo Mona Baker 1,160] đã nêu một ví dụ sau “John has been taken ill”. Trong ngữ cảnh, câu trên sẽ có chức năng theo một loại phối cảnh nào đó tuỳ thuộc vào mục đích giao tiếp, ví dụ có chức năng thông báo sức khỏe của một người (John has been taken ill). Có chức năng khẳng định thông tin là đúng (John has been taken ill). Đáng lưu ý là những gì Firbas mô tả FSP trong câu này sẽ được phân tích thuần túy theo mô hình Halliday.
4.2 Tính năng động giao tiếp (Communicative Dynamism, viết tắt là CD)
Các quan niệm trên được bổ sung theo mô hình Firbas với một khái niệm về CD. Theo đó, mỗi mệnh đề gồm các loại thành phần khác nhau. Một số thành phần đặt nềnmóng cho các thành phần có thể chuyển tải thông tin. Những thành phần đặt nền móng này (foundation laying elements) thường có ít giá trị giao tiếp, phụ thuộc ngữ cảnh (context- dependent) và là “đề”. Nếu lấy lại ví dụ: “John has been taken ill” có chức năng thông báo về sức khỏe của John) thì thành phần đặt nền móng sẽ là “John”. Thành phần còn lại thực hiện mục đích giao tiếp của phát ngôn và là “thuyết”. Thành phần tạo ra cốt lõi (core-constituing elements) đóng vai “phi đề” (non-theme), độc lập ngữ cảnh (context – independent) và chuyển mức độ CD cao hơn. Về sau, Firbas giải thích thêm rằng “phi đề” gồm hai thành phần: chuyển đề (transition) và thuyết (rheme). Chuyển đề gồm các thành phần tạo ra cốt lõi. Trong ví dụ “John has been taken ill”. Chuyển đề là “has been + en”. Chuyển đề cũng có thể gồm một động từ nối như “be”/ “seem” và thuyết là “take + ill.”
Ngoài chuyển đề vừa nêu, lý thuyết FSP còn quy vị trí đề/ thuyết cho động từ tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và ngữ nghĩa của chính động từ, về mặt ngữ nghĩa, các động từ nối như “be”, “seem” thường đi với đề như một thành phần đặt nền móng. Về mặt ngữ cảnh, ví dụ sau của Scinto (dẫn theo Mona Baker, 1,163) sẽ cho ta câu trả lời rõ ràng hơn: “Leander bought a new book”. Nếu ta đặt cho câu này bằng các câu hỏi: “what did Leander buy?” hoặc “what did Leander do ?” Với câu hỏi thứ nhất , câu trả lời là “a new book”. Câu hỏi thứ hai, câu trả lời là “bought a new book”. Hai câu trả lời này cho thấy rằng động từ có thể là một thành phần của đề/ của thuyết. Ở câu hỏi một, động từ được đề hoá, ở câu hỏi hai, động từ là “thuyết”và được thay bằng một động từ đầy đủ tức là “to do”.
Có thể thấy từ việc xem động từ vừa có thành phần đề vừa có thành phần thuyết, các nhà lý thuyết FSP còn thừa nhận cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ cảnh là các nhân tố xác định thêm sự phân bố CD, vì vậy CD là do sự tác động tương hổ của 3 nhân tố: sự thay đổi tuyến tính, cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ cảnh. Cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ cảnh hoạt động hoặc cùng hướng hoặc ngược hướng với sự thay đổi tuyến tính (Firbas, [dẫn theo Mona Baker]) nhưng cả hai theo thứ bậc thường ưu thế hơn sự thay đổi tuyến tính. Ví dụ, đại từ trừ các ngữ cảnh mà chúng được trình bày tương phản, vì phụ thuộc ngữ cảnh nên chúng luôn mang mức độ CD thấp bất kể vị trí chúng xuất hiện trong mệnh đề. Trong câu “I gave the book to him /I gave him the book”, “him” thường được xem là “đề” theo lý thuyết FSP. Tương tự, các từ ngữ chỉ định được xem là “đề” và các từ ngữ không chỉ định được xem là “thuyết”. Xin xem ví dụ sau:
•      A heavy dew (thuyết) had (chuyển đề) fallen (đề).
•      The grass (đề) was (chuyển đề) blue (thuyết).
Việc phân tích các thành phần mệnh đề theo FSP là một công việc phức tạp và không dễ dàng ứng dụng như mô hình Halliday. Tuy nhiên, việc hiểu biết cơ bản về quan điểm này có thể mang lại sự hữu ích cho người dịch.
4.3. Sự xếp tuyến tính và cấu trúc đánh dấu trong FSP
Vì các nhà lý thuyết FSP không công nhận vị trí câu là tiêu chí duy nhất để quy
vị trí đề cho các thành phần mệnh đề nên hệ quả là hai diễn đạt khác nhau, có cùng thông tin có thể có cùng “đề”. Xin xem ví dụ:
•      In China the book received a great deal of publicity.
•      The book received a great deal of publicity in China.
Theo quan điểm FSP, “In China” đều xem là “thuyết ở 2 diễn đạt trên. Trái lại, đối với đường hướng Halliday “In China” là “đề được đánh dấu” ở ví dụ đầu nhưng lại là “thuyết” ở ví dụ thứ hai. Vậy câu hỏi là liệu có một đề được đánh dấu (marked theme) theo lý thuyết FSP không? Vì vấn đề tạo ra một đề đánh dấu bằng cách đặt một thành phần ở vị trí đầu của mệnh đề giả định rằng ví trí đầu đó dành cho “đề”. Tuy nhiên theo Mona Baker [1,165] các nhà lý thuyết FSP cùng thừa nhận có các cấu trúc được đánh dấu và không đánh dấu ở từng ngôn ngữ. Dưới đây là sự giải thích của họ nhưng có khác biệt với đường hướng Halliday. Theo Mathesius và Firbas [ dẫn theo Mona Baker, 165] bản chất tương tác gợi ý rằng trật tự từ thông thường, không đánh dấu của các phân đoạn thông tin là “đề” theo sau là “thuyết”. Vì vậy tổ chức một thông tin thành chuỗi đề-thuyết là trật tự thông thường, không đánh dấu và họ cũng gợi ý thêm các chuỗi mà lệch khỏi trật tự thông thường này có xảy ra. Họ gọi một tổ chức thuyết-đề của một thông tin là trật tự “biểu cảm” (pathetic order) [Firbas, dẫn theo Mona Baker
1,165]. Trật tự biểu cảm này được đánh dấu và chức năng của nó là chuyển một sự biểu cảm nào đó. Vì vậy câu “well-publicized the book was” được xem là “đánh dấu” ở cả đường hướng Halliday lẫn trường phái Praha. Tuy nhiên, một nhà ngôn ngữ theo Halliday phân tích câu trên là chuỗi “đề” đặt đầu câu theo sau là “thuyết” còn một nhà ngôn ngữ Praha sẽ phân tích câu trên là chuỗi “thuyết-đề”.
5. Các chiến lược gợi ý nhằm giải quyết độ căng (tension) giữa chức năng cú pháp và chức năng thông tin trong dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ
Một số nhà ngôn ngữ học Johns (1991), Papegaaij và Schubert (1998) [dẫn theo Mona Baker 1,167] đã gợi ý một số chiến lược để giải quyết vấn đề nói trên. Ở đây, chúng tôi sẽ cố gắng thảo luận một số chiến lược với các ví dụ (nếu có thể) được trích từ các văn bản tiếng Anh và các bản dịch từ Anh sang Việt và ngược lại.
Chiến lược 1: Thay đổi dạng (voice change)
Chiến lược này liên quan đến việc thay đổi hình thái cú pháp của động từ để đạt được một chuỗi thành phần khác. Các ví dụ sau liên quan đến việc dùng dạng chủ động thay cho dạng bị động và ngược lại.
-Văn bản tiếng Anh:
The implications of these results for understanding the childhood antecedents of type A behavior are discussed.
-Văn bản dịch tiếng Việt gợi ý:
Bài báo/tác giả bài báo/ chúng tôi thảo luận về các khuyến nghị của các kết quả
nói trên để hiểu lai lịch giai đoạn đầu của hành vi nhóm A
-Văn bản tiếng Việt:
- Ảnh hưởng các yếu tố như thời gian khuấy, pH dung dịch, nồng độ bentonit, nồng độ Cu2+ , nhiệt độ ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ Cu2+ trên betonit Thuận Hải đã được khảo sát.
-Văn bản dịch tiếng Anh:
The influence of different factors such as shaking time, pH of aqueous solution, amount of absorbent, Cu2+ on the Thuan Hai bentonit has been also investigated (7)
-Văn bản dịch tiếng Anh gợi ý:
The paper/the present author / we investigate(s) the influence of …
Cấu trúc khiến tác (Ergative structure) cũng có thể cung cấp một chiến lược tương tự như chiến lược thay đổi dạng. Khiến tác liên quan đến việc sử dụng một tân ngữ của một ngoại động từ làm chủ ngữ của một nội động từ, ví dụ: “The government developed the economy very fast in the 1980’s” và “The economy developed very fast in the 1980’s”.
Chiến lược 2: Thay đổi động từ (change of verb)
Chiến lược này liên quan đến việc thay đổi một động từ với một động từ khác có nghĩa tương đương nhưng có thể dùng cấu trúc cú pháp khác nhau, ví dụ: “She likes very much the way George put it” và “The way George put it pleased her”.
Chiến lược 3: Danh hóa (nominalization)
Danh hóa liên quan đến việc thay hình thái một động từ bằng một hình thái danh từ (ví dụ: describe>description) và thường kèm theo động từ “rỗng” về mặt ngữ nghĩa như “give” “take” khi ở dạng bị động. Để minh hoạ tính hữu dụng của chiến lược danh hóa, có lẽ ta nên xem xét chiến lược đó có thể được dùng để dịch tốt hơn một văn bản hiện có.
-Văn bản dịch tiếng Anh:
The influence of various factors such as trichloroacetic acid, rare earth concentrations and salting out agent concentration on the distribution coefficient has been studied.
-Văn bản dịch lại gợi ý:
A study is carried out of the influence of various such as … Johns (1991) cũng cho rằng danh hóa cũng có thể đặt sau một chủ ngữ “yếu” như “this” trong ví dụ: “This is a study of the influence of …
Chiến lược 4: Hoán chuyển vị trí (extraposition)
Chiến lược này liên quan đến việc đổi vị trí của toàn bộ mệnh đề bằng cách lồng một câu đơn vào một câu phức. Cấu trúc chêm xen và cấu trúc chêm xen giả (xin xem
3.2) cung cấp các ví dụ hữu dụng về chiến lược này.
6. Kết luận
Việc hiểu biết hai quan điểm về dòng thông tin và các chiến lược giải quyết “độ
căng” giữa chức năng cú pháp và chức năng thông tin là rất quan trọng trong dịch thuật. Tuy nhiên, hầu hết các dịch giả thường ưa thích các nguyên tắc cú pháp của ngôn ngữ dịch hơn là cấu trúc thông tin của ngôn ngữ gốc. Theo Mona Baker [1,172], người dịch không phải lúc nào cũng tuân theo sự sắp xếp đề thuyết của bản gốc nhưng điều quan trọng là văn bản dịch có sự sắp xếp đề – thuyết riêng của nó và văn bản đó được đọc một cách nhẹ nhàng và tự nhiên, không bóp méo cấu trúc thông tin của văn bản gốc (xin xem mục 3.3) và giữ được một sự nhấn mạnh nào đó được thể hiện ở các cấu trúc được đánh dấu ở bản gốc và văn bản dịch với tư cách là một văn bản phải giữ được điểm nhìn mạch lạc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]  Baker, M. (1992), In Other Words: A Coursebook on Translation, Routledge. [2]  Brown, G. & Yule, G. (1983), Discourse Analysis, Cambridge University.
[3]  Bùi Tiến Bảo và Đặng Xuân Thu (1999), Lý thuyết dịch, Nxb Giáo dục.
[4]  Cao Xuân Hạo và một số tác giả (1999), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, Quyển 1,
Nxb Giáo dục.
[5]  Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Đại học và
Trung học chuyên nghiệp.
[6]  Greenbaum, Sidney & Quirk Randolph (1990), A Student’s Grammar, Longman. [7]  Halliday, M.A.K (1985), An Introduction to Functional Grammar, Edward Arnold. [8]  Hatim, B. & Mason, I. (1990), Discourse and the Translator, Longman.
[9]  Jacobs, Roderick A (1995), English Syntax, Oxford University Press. [10] James, C. (1980), Contrastive Analysis, Longman.
[11] Larson, Mildred L. (1998), Meaning-based Translation, University Press of America. [12] Lock, G. (1999) Functional English Grammar, Cambridge University Press.
[13] Lý Toàn Thắng (2004), Lý thuyết trật tự từ trong cú pháp, NXB Giáo dục. [14] Matin, JR & et al. (1997), Working with Functional Grammar, Arnold.
[15] Newmark, P. (1998), A Textbook of Translation, Prentice Hall International.
[16] Nguyễn Hồng Cổn (2000), “Về sự phi đối xứng giữa hình thức và ý nghĩa trong các đơn vị ngữ pháp”, Ngôn ngữ, số 7.2000, tr 36-47.
[17] Phan Ngọc (2000), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, NXB Trẻ.
[18] Pumpyanski (2002), Dịch văn bản khoa học và kỹ thuật sang tiếng Anh (Bản dịch tiếng Việt của Đào Hồng Thu), NXB Khoa học – Kỹ thuật.
[19] Richards, Jack C & et al. (1992), Longman Dictionary of Language Teaching & Applied Linguistics, Longman.

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Những điểm cần lưu-ý khi dịch một văn-bản khoa-học – kĩ-thuật từ tiếng Anh sang tiếng Việt (Some challenges in the translation of an English scientific technical text into Vietnamese)


Những điểm cần lưu-ý khi dịch một văn-bản khoa-học – kĩ-thuật từ tiếng Anh sang tiếng Việt (Some challenges in the translation of an English scientific technical text into Vietnamese)

  • Nguyễn-Phước-Vĩnh-Cố, Trường Đại-học Ngoại-ngữ, Đại-học Đà-Nẵng
  • Nguyễn-Bắc-Nam, Đại-học Đà-Nẵng
TÓM TẮT
Khi dịch một văn bản Khoa học – Kỹ thuật từ Anh sang Việt, giáo viên và sinh viên ViệtNamhầu như không quen với các đặc trưng ngữ pháp (thể thụ động, vô nhân xưng, hình thái xưng hô…) vốn được xen lẫn với các biến thể ngôn ngữ khác. Để góp phần vào việc học tiếng Anh nói chung và dịch nói riêng, bài báo đề cập đến những thách thức mà người dịch gặp phải trong một văn bản KH- KT và phân tích những thách thức này qua việc xem xét 3 tham số ngữ vực: trường diễn ngôn, người tham dự diễn ngôn và phương thức diễn ngôn. Bài báo cũng nêu ra một số giải pháp để giải quyết những thách thức nói trên.
ABSTRACT
Most of the Vietnamese teachers and students seem to be unfamiliar with a scientific and technical text in English. Its characteristics and grammatical features (passive; impersonality; forms of address)… merge with other varieties of language. As part of an effort to contribute the ideas to the study of English in general and the field of translation in particular, the present paper refers to the challenges faced by the translator when dealing with a scientific and technical text and provides an analysis of these challenges by examining the three register parameters: field of discourse, tenor of discourse and mode of discourse. The paper also deals with some solutions to these challenges.
1. Đặt vấn đề
            Việc dịch một ngôn ngữ A thường được gọi là ngôn ngữ gốc (the source language) sang một ngôn ngữ B thường được gọi là ngôn ngữ đích (the target language) luôn đặt ra nhiều thách thức cho người dịch và nảy sinh một số vấn đề liên quan đến từ, cụm từ, câu… Vậy chuyển nghĩa một văn bản khoa học – kỹ thuật (KH-KT) từ Anh sang Việt người dịch sẽ gặp phải những thách thức và khó khăn gì? Hẳn câu nhận xét sau đây của Peter Newmark [8] là câu trả lời thỏa đáng nhất: “Technical translation is primarily distinguished from other forms of translation by terminology”. (Dịch kỹ thuật được phân biệt với các hình thức dịch khác chủ yếu bởi thuật ngữ). Với phát biểu trên, Peter Newmark thừa nhận một trong những khó khăn mà người dịch một văn bản KH-KT gặp phải chính là hệ thuật ngữ. Hệ thuật ngữ KH-KT vốn có những đặc trưng riêng biệt mà người dịch cần phải lưu tâm.

2. Các đặc trưng của một văn bản Khoa học – Kỹ thuật
2.1. Nguồn gốc của hệ thuật ngữ
            Trước hết hệ thống thuật ngữ KH-KT thường là từ La tinh, như: otorhinolaryngology, electro-encephalography, homo sapiens,… hoặc các từ có gốc từ La tinh: “to assert”, “to state”, “to declare” thay cho động từ “to say”, “to contaminate” thay cho động từ “to soil”, “to purify” thay cho động từ “to clean”.
2.2. Biến thể của ngôn ngữ
Kế đến, hệ thống thuật ngữ này còn là tên gọi cho một biến thể ngôn ngữ được ghi nhận có hai chiều.
2.2.1. Phương ngữ
Chiều thứ nhất là phương ngữ (dialect): Loại biến thể này được sử dụng phổ biến trong một cộng đồng hoặc nhóm người cụ thể. Một trong những biến thể đặc trưng nhất trong văn bản KH-KT tiếng Anh là loại phương ngữ địa lí (geographical) giữa tiếng Anh của người Anh (British English) và tiếng Anh của người Mỹ (American English). Xin nêu một vài ví dụ liên quan đến phương ngữ Anh và Mỹ.
Anh
Mỹ
flammable
inflammable
flat (battery)
dead (battery)
aerial
antenna
anticlockwise
counterclockwise
extension lead
power strip
gear lever
stick shift
mobile phone
cell phone
polystyrene
styrofoam
2.2.2. Ngữ vực
Chiều thứ hai là ngữ vực (register): Là loại biến thể ngôn ngữ mà người sử dụng ngôn ngữ xem xét phù hợp trong một tình huống cụ thể. Trong ba tham số biến thể của ngữ vực có thể phân biệt được là Trường (field), Người giao tiếp (tenor) và Phương thức thì Trường là một loại biến thể sử dụng ngôn ngữ phản ảnh những gì mà Gregory và Carol [3] gọi là “vai diễn có mục đích” vốn tương tự cách gọi “phạm vi” (province) của Crytal và Davy để nhấn mạnh thêm về nghề nghiệp, chuyên môn và chuyên ngành. Đây thực sự là một thách thức lớn nhất cho người dịch văn bản KH-KT. Theo quan điểm dịch thuật của Hatim và Mason [3], trường (field) có thể gây khó khăn cho người dịch khi chuyển nghĩa một ngôn ngữ gốc như tiếng Anh, vốn đã phát triển một nền văn hóa kỹ thuật cao mà Gregory gọi là “những trường được đánh dấu của diễn ngôn” (marked fields of discourse) để phản ánh thế giới kinh nghiệm rất phát triển của KH-KT của nền văn hóa nói trên. Rõ ràng người dịch từ ngôn ngữ gốc như tiếng Anh sang các ngôn ngữ đích ở các nước đang phát triển như Việt Nam, Lào… sẽ gặp phải những thách thức đó là phải tạo ra các từ mới liên quan đến trường ngôn ngữ KH-KT. Đồng với quan điểm này Peter Newmark cũng cho rằng: “khó khăn chủ yếu trong dịch một văn bản KH-KT là thuật ngữ mới”. Trường hợp điển hình nhất là từ “friendly” khi kết hợp với một từ khác cho ra các từ như “user-friendly”, “environment-friendly”, “family-friendly” đều có nghĩa hết sức khác nhau nhưng đa phần được dịch là “thân thiện với người dùng”!?, thân thiện với môi trường!?, “thân thiện với gia đình!?”. Đó là chưa kể đến một loạt từ mới như: “podcast”, “script kiddies”, “andropause”, “ubersexual” mà hiện nay vẫn vắng bóng ở các từ điển bản ngữ như Oxford thì ắt hẳn là một thách thức cho người dịch để tạo ra các từ mới, cách diễn đạt mới chưa có trong nền văn hóa KH&KT của ngôn ngữ mình. Ngoài những thách thức nói trên, cũng cần nói đến những nhân tố không kém phần quan trọng thường gây khó khăn cho người dịch, đó là:
            a/ Người dịch không am hiểu chủ đề (topic). Chủ đề hiểu ở đây là chủ đề của diễn ngôn, một bộ phận của diễn ngôn như chủ đề ngữ pháp tiếng Anh, chủ đề toán học, chủ đề chính trị hoặc tôn giáo. Có những người dịch rất thông thạo một chủ đề nào đó như tiếng Anh thương mại nhưng lại rất lúng túng trước các từ ngữ chuyên ngành về luật như “civil law”, “common law”… Xin đưa ra một số thuật ngữ liên quan đến các chủ đề nói trên để chúng ta những người dịch xem xét mức độ am hiểu về mỗi chủ đề.
Maths: Theorem; equation; map; variable; density; diameter; constant; solution; proportion….
Regilion: Supreme Being; trinity; Lucifer; Shiva; abode of the blessed; polytheism; Brahmanism; blasphemy; Karma; Great vehicle…
b/ Thiếu kiến thức về chuyên môn (technicality). Tính chuyên môn cũng là đặc trưng quan trọng nhất của hệ thuật ngữ KH&KT. Tính chuyên môn được hiểu ở đây là mức độ chúng ta sử dụng các từ ngữ từ các ngành, nghề cụ thể theo một cách chính xác hơn. Gần đây ta thấy trên báo chí thường sử dụng từ “chim xệ cánh” thay cho một từ chỉ một bệnh trong y học là “xơ hóa cơ Delta” vốn được dùng trong giới y học. Rõ ràng xét từ góc độ chuyên môn, người dịch sẽ lúng túng với từ “phoneme” hơn là từ “sound”, với từ “pertussis” hơn là từ “whooping cough”.
            c/ Tính kết hợp các ngữ vực chuyên ngành: trong tiếng Anh phổ thông việc kết hợp từ vựng thường được đoán rất dễ dàng vì chúng rất tiêu biểu và phổ biến nhưng đối với ngôn ngữ chuyên ngành, một số kết hợp như vậy có vẻ như không đặc trưng lắm trong ngôn ngữ hàng ngày nhưng lại rất phổ biến trong ngữ vực chuyên ngành. Sinclair [1] cho rằng các cụm từ “dull highlights” và “vigorous depressions” có thể nghe lạ lẫm trong tiếng Anh thường ngày, nhưng lại là những kết hợp phổ biến trong lĩnh vực nhiếp ảnh và khí tượng học. Trong thống kê các sự kết hợp như “biased error” và “tolerable error” đều phổ biến và chấp nhận được. Các kết hợp nói trên có vẻ lạ lẫm trong giao tiếp Anh ngữ hàng ngày thì chắc chắn cũng là một khó khăn cho người dịch.
            d/ Tính đa nghĩa của từ khi kết hợp: Các từ có nhiều nghĩa khác nhau khi được kết hợp nhiều cách khác nhau cũng là một khó khăn cho người dịch. Từ “medicine” có 3 nghĩa: 1) y học/ ngành y; 2) thuốc uống; 3) nội khoa. Khi kết hợp với các động từ “to study” hoặc “to practise” thì mang nghĩa 1). Khi kết hợp với “to take” hoặc “to drink” thì mang nghĩa 2). Trường hợp từ “medicine” khi kết hợp với các tính ngữ “traditional/ conventional/ orthodox/ alternative…. thì nó có nghĩa là nền y học. Nếu nó đi với các từ “cough” hay ” herbal” lại có nghĩa thuốc thang, khi kết hợp với từ internal nó có nghĩa là nội khoa.
            e/ Các từ kỹ thuật hướng về sự vật và các từ khoa học hướng về quan niệm thường có nhiều nghĩa ở các ngành công nghệ cũng là một vấn đề trong dịch. Từ “module” có bốn nghĩa ở các chuyên ngành khác nhau. Các từ khác như “field”, “matrix”, “force”, “power” cũng có hơn một nghĩa trong nhiều lĩnh vực.
2.3. Người giao tiếp
Tiếp đến, một điều không thể không nói đến trong văn bản KH-KT là người giao tiếp (tenor of discourse), chỉ mối quan hệ giữa người nói và người nghe, người viết và người đọc. Trong văn bản KH-KT, vấn đề xưng hô là vấn đề thú vị nhất nhưng đồng thời cũng gây không ít khó khăn trong dịch thuật. Trong văn bản KH-KT, nếu có sử dụng hình thái xưng hô người ta thường tránh né “cái tôi” đáng ghét “I”, thậm chí là “We”. Người ta thường thay vào đó một loạt cấu trúc vô nhân xưng (impersonality) như: 1) đại từ nhân xưng không xác định; 2) cấu trúc bị động; 3) vai trò các trạng ngữ biểu thị thái độ, quan điểm của tác giả đối với mệnh đề thông tin đi liền phía sau. Sự tránh né như thế là rất phổ biến trong văn bản KH-KT, nơi mà người ta cho thông tin quan trọng hơn người tham dự diễn ngôn.
2.3.1. Trường hợp sử dụng đại từ nhân xưng “one”
Xem xét các ví dụ sau:
            – One may be left with choice between different bond lengths (có thể lựa chọn các chiều dài liên kết khác nhau).
            – When one considers the number of species of animals, birds, microorganism, he begins to wonder perhaps how there could be so many millions of different proteins (Khi xem xét số lượng loài động vật, chim muông, vi sinh vật, ta bắt đầu ngạc nhiên là làm thế nào có thể có bao nhiêu triệu protein khác nhau).
Đối với đại từ nhân xưng “one” khi dịch sang tiếng Việt ở hai ví dụ nêu trên ta thấy người dịch loại bỏ từ “one”. Điều này tương ứng với cách rút bỏ chủ ngữ vốn rất phổ biến trong tiếng Việt để diễn đạt ý nghĩa nhân xưng khái quát. Ở một số văn bản, đại từ “he” thường thay thế cho “one” tránh sự lặp lại nhưng chức năng vẫn là một đại từ vô nhân xưng, trường hợp này nên dịch là “người ta” hay “ta”.
2.3.2. Cấu trúc bị động
Trong văn bản KH-KT, cấu trúc bị động thường được sử dụng rất phổ biến để mô tả, giải thích các hiện tượng cụ thể hay quá trình và cho phép ta loại bỏ ngôi thứ nhất. Loại cấu trúc này khi chuyển sang tiếng Việt thường được thay thế bằng cấu trúc chủ động hay có thể dùng dạng bị động tương đương. Xem các ví dụ sau:
            – He was shown the equipment (người ta chỉ cho anh ta thiết bị mới).
            – The reaction is run in the cold (phản ứng xảy ra trong điều kiện lạnh).
            – The temperature is risen (người ta tăng nhiệt độ).
            Quan trọng hơn cả là việc dịch các câu bị động mà thông tin được xét ở góc độ của lý thuyết sự phân đoạn thực tại câu. Cấu trúc bị động được dùng để báo hiệu phần thuyết (rheme) và nhằm tạo ra một trật tự khách quan. Xem ví dụ:
            – This method of nitrotion has been reported by several scientists.
            Nếu ta dùng cấu trúc chủ động để dịch câu trên thì “phương pháp nitrô hóa này” là cái đã biết (given information) nhưng lại nằm trong phần thuyết (rheme) do đó “không tự nhiên bằng nếu được đặt vào vị trí chủ đề một câu bị động. “phương pháp nitrô hóa này” đã được mô tả bởi một số nhà nghiên cứu. Song song với nguyên tắc trên (tin cũ trước tin mới) nhiều tác giả các văn bản KH-KT tiếng Anh ưa thích việc đặt các cấu trúc “dài hơn” và “nặng hơn” ở cuối mệnh đề (end-weight). Điều này lý giải tại sao người ta chọn cấu trúc bị động chứ không phải cấu trúc chủ động.
- The Robosaurus is controlled by a human pilot who sits inside its head.
            Vì vậy khi gặp phải cấu trúc trên, thì việc sử dụng cấu trúc bị động để dịch sang tiếng Việt sẽ tự nhiên hơn nhiều so với cấu trúc chủ động.
2.3.3. Vai trò các trạng ngữ biểu thị thái độ
Quan điểm của tác giả đối với mệnh đề thông tin đi liền phía sau (disjuncts).
            Ở văn bản KH-KT các trạng ngữ biểu thị thái độ của tác giả với thông tin của phát ngôn tiếp theo như “admittedly”, “announcedly”, “reportedly”, “apparently”,… được sử dụng khá phổ biến. Các trạng ngữ này thường thay cho câu vô nhân xưng như “it is admitted”, “it is announced”, “it is apparently”. Thông thường người dịch văn bản KH-KT thường bỏ qua vai trò của các trạng ngữ này hoặc xem nó như một trạng ngữ bổ nghĩa. Tuy nhiên đối với người dịch có năng lực sẽ dễ dàng nhận ra mối quan hệ giữa tác giả từ các trạng ngữ này đối với văn bản. Ở góc độ người giao tiếp diễn ngôn (tenor), ta thấy nghĩa các trạng ngữ này vắng bóng cá nhân tác giả thay vào đó là “số đông”. Xem các ví dụ sau:
            – These interpretations are admittedly conjectural (người ta cho rằng các lý giải này là giả định).
            – This is, announcedly, a very powerful reaction (theo thông báo đây là chất phản ứng rất mạnh).
2.4. Phương thức diễn ngôn
Điểm lưu ý cuối cùng là phương thức diễn ngôn (mode of discourse): chỉ vai trò của ngôn ngữ đang hoạt động (diễn văn, tiểu luận, diễn thuyết, các hướng dẫn…) và kênh truyền đạt của ngôn ngữ (nói, viết). Sự lựa chọn của ngôn ngữ luôn bị chi phối bởi hai chiều nói trên. Ở đây sự phân biệt cơ bản là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Trong ngôn ngữ nói, theoBell[2] trọng tâm thông tin có thể thay đổi theo ngữ điệu và ý định người nói thường được chỉ ra thông qua ngữ điệu, cử chỉ, vẻ mặt và các kênh bổ trợ đó lại vắng mặt trong ngôn ngữ viết. Vì vậy, người viết thường phải nhấn mạnh những bộ phận của văn bản bằng các trạng ngữ chỉ cho người đọc đọc chúng như thế nào (ví dụ: “unfortuanately”…, “to be frank”… hoặc các cấu trúc chêm xen (cleft sentences) để nhấn mạnh thông tin. Đây chính là đặc điểm quan trọng người dịch phải biết khi dịch một văn bản KH-KT nói hay viết.

3. Kết luận
3.1. Tính chính xác
Qua các điểm “lưu ý” có ý nghĩa quan trọng đối với người dịch nói trên, vẫn còn một đôi điều đáng chú ý nữa để có một bản dịch KH-KT đáng tin cậy. Điểm đầu tiên là tính chính xác (accuracy). Trong một văn bản KH-KT, tính chính xác liên quan đến trường của diễn ngôn (field of discourse) tức hệ thuật ngữ (terminology). Cũng cần phải nhắc lại rằng trong khoa học ngôn ngữ thường hướng đến khái niệm còn trong kỹ thuật ngôn ngữ thường hướng tới sự vật [8]. Chính vì vậy để có được tính chính xác trong dịch các văn bản KH-KT. Khi gặp phải một khái niệm KH hoặc mô hình trừu tượng cố gắng khám phá khái niệm hoặc mô hình trừu tượng đó bằng một phương tiện nào đó. Hãy vẽ khái niệm hoặc mô hình trừu tượng đó. Hãy phác họa chúng. Hãy vẽ phát đồ phát triển khái niệm hoặc mô hình trừu tượng đó. Đối với thuật ngữ kỹ thuật thì việc học từ ngữ bằng chủ đề, các hình vẽ, các biểu đồ là vô cùng hữu ích. Ví dụ, trong lĩnh vực xây dựng dân dụng, chúng ta phải học các từ cơ bản liên quan đến việc dịch thuật như: Plumb-line, level, scaffold, belt-conveyor, concret mixer, foundations, wiring… thường được minh họa qua các tranh ảnh, biểu đồ ở các giáo trình kỹ thuật như Tech Talk, các từ điển Oxford – Duden Pictorial English Dictionary. Kể cả các động từ chúng thường kết hợp “to need”, “install”, “assembly”, “check”….
3.2. Tính trang trọng và tính chuyên môn
Thứ đến tính chính xác cũng ảnh hưởng đến hai nhân tố khác là tính trang trọng (formality): là thước đo cho thấy sự lưu ý đến cấu trúc thông tin, sự lựa chọn từ ngữ của người nói (người viết) và tính chuyên môn (technicality) vốn đóng một vai trò quan trọng trong văn bản KH-KT. Chủ đề, tính trang trọng và tính chuyên môn ảnh hưởng đến việc chọn từ ít ra ở hai phương diện. Thứ nhất, chúng có thể xác định được các từ ngữ chúng ta sử dụng. Chúng ta thường có thể xác định chủ đề mức độ chuyên môn của các từ ngữ được dùng. Từ “quark” cho ta thấy người ta đang nói chuyện về vật lý phân tử. Từ “byte” cho ta thấy người ta đang nói chuyện về lĩnh vực công nghệ thông tin. Thứ hai, 3 nhân tố này có thể xác định nghĩa của từ. Thí dụ, từ “morphology” có nghĩa là “các hình thái của từ” ở ngữ cảnh ngôn ngữ học, nhưng lại có nghĩa là “hình dạng và cấu tạo của động và thực vật” ở ngữ cảnh sinh học.
3.3. Vai trò người dịch
Cuối cùng cần phải nói đến kinh nghiệm của người dịch mà vốn liếng cần nhất là sự hiểu biết đại cương về chuyên ngành sẽ dịch. Muốn vậy, người dịch phải học bằng nhiều cách: làm việc với người có kiến thức chuyên ngành (học và hỏi); các nguồn sách tham khảo và từ điển; theo học các lớp học liên quan đến lĩnh vực chuyên ngành; đọc sách báo, nghe đài, xem ti vi; lập nhóm thảo luận về dịch thuật…. và nếu bạn đồng ý “Experience is the best teacher” thì câu sau đây của Pym [10] là một kinh nghiệm trong lĩnh vực dịch văn bản KH-KT: “To understand a medical text in one language one must read like a doctor or nurse or a hospital administrator (or whatever) in that language; to translate it effectively into another language one must write like a doctor (or whatever) in that other language.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Baker, Mona, In Other Words, Routledge, 1992.
[2] Bell, Roger. T., Translation and Translating Longman, 1991.
[3] Hatim and T. Mason, Dis course and the Translator, Routledge, 1990.
[4] Hatim and T. Mason, The Translator as Communicator, Routledge, 1990.
[5] Gerald P., Delahunty and James J., Garvey, Language, Grammar and Communication, Mc Graw – Hill, Inc, 1994.
[6] Larson L. Mildred, Meaning – based Translation, University Press of America, Longman Dictionary of Language Teacher and Applied Linguistics, 2000.
[7] Newmark, Peter, A text book of Translation, Prentice Hall International, 1988.
[8] Newmark, Peter, Approaches to translation, Prentice Hall International, 1984.
[9] Robinson, Douglas, Becoming a Translator, Routledge, 1997.
[10] Vicki, Hollett, Tech Talk,Oxford Press, 2004.
[11] Chu Xuân Nguyên, Từ điển Việt – Anh theo chủ điểm, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1992.
[12] Từ điển Anh – Việt, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1988.
[13] Hornby, Oxford Advanced learner’s Dictionary, Oxford University Press, 2005.
[14] Nguyễn Phước Vĩnh Cố, Nguyễn Bắc Nam, Thử bàn về khía cạnh ngữ dụng với việc dịch từ tiếng Anh chuyên ngành, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Đại học Đà Nẵng, 2004.
[15] Pumpyanski, Dịch văn bản khoa học và kỹ thuật sang tiếng Anh, Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật

Thứ Tư, 20 tháng 7, 2011

CÁC ĐẶC TRƯNG TRONG MỘT VĂN BẢN TIẾNG ANH TÀI- CHÍNH- KẾ TOÁN- NGÂN HÀNG


CÁC ĐẶC TRƯNG TRONG MỘT VĂN BẢN
TIẾNG ANH TÀI- CHÍNH- KẾ TOÁN- NGÂN HÀNG
CHARACTERISTIC FEATURES OF A FINANCIAL, ACCOUNTING, AND BANKING ENGLISH TEXT

Nguyễn Phước Vĩnh Cố
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

TÓM TẮT

Dù tiếng Anh được chú trọng một cách đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục ở phổ thông và bậc đại học tại Việt nam nhưng tiếng Anh vẫn nhận được ít chú ý từ người học ở hai bậc học này đặc biệt ở lĩnh vực chuyên ngành. Mục đích của bài báo là nêu câu trả lời thực tế nhất cho các vấn đề mà sinh viên gặp phải khi đọc một văn bản tiếng Anh tài chính và phân tích chi tiết các vấn đề này bằng cách xem xét các đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản tiếng Anh tài chính-kế toán- ngân hàng. Những kết  quả nghiên cứu này cho thấy rằng các đặc trưng chính của tiếng Anh chuyên ngành là nằm ở từ vựng. Kết quả của nghiên cứu gợi ý với hiểu biết cơ bản các đặc trưng hệ thuật ngữ tài chính, người học, người đọc và người dịch (kẻ xa lạ) có thể nhận được tấm giấy thông hành vào miền đất lạ của tiếng Anh chuyên ngành (tài chính-kế toán-ngân hàng.)
ABSTRACT

   Although English has been given special emphasis in the field of education, secondary and tertiary alike in Vietnam; however, it  still gets very little attention from the students at secondary education as well as higher one especially in the specialised fields. The objective of this paper is to give the most practical answer possible to  problems facing students when dealing with a financial English text and to provide a detailed analysis of these problems by examining the most basic features of  a financial, accounting and banking English text. These findings indicate that the most characteristic features of  specialised English lie in its lexicon. The results of  these findings suggest that with a knowledge of the basic features of  terminology of  financial English, learners, readers and translators (strangers) may get a ‘passport’ to ‘strange land’ of  English for Specific Purposes (financial, accounting and banking English.)
                          
1.      Đặt vấn đề
Tiếng Anh được xem là ngôn ngữ khoa học và thương mại [4,6], ngôn ngữ của hiện đại hoá và tiến bộ về công nghệ tại các nước đang phát triển [2,12], tiếng Anh cũng có thể đươc xem là sinh ngữ không chỉ ở thời đại chúng ta mà còn xuyên suốt lịch sử. Được chú trọng một cách đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục từ tiểu học đến đại học ở Việt Nam nhưng vai trò tiếng Anh, phổ thông cũng như chuyên ngành, vẫn ít được chú ý từ học sinh trung học đến sinh viên đại học. Một trong những lý do chính có thể là người học chưa có một phương pháp học: sự tự chủ trong việc học, sự tìm tòi tri thức, sự phân chia thời gian,  sự thực hành cần mẩn, cách quan sát…Một lý do khác là học sinh phổ thông khi bước vào trường đại học chuyên ngành vẫn là ‘người xa lạ trên mảnh đất xa lạ’ (a stranger in a strange land) [dẫn theo Hutchinson & Waters tr.158], tức là, đa số vốn đã được học ở môi trường tiếng Anh phổ thông từng quen thuộc nay gặp phải một văn bản chuyên ngành như ‘balance sheet’ (bảng cân đối tài chính) hoặc ‘financial statement’ (báo cáo tài chính) thì họ bổng nhiên thấy mình phải đọc một văn bản mà nội dung của nó vốn họ ít biết hoặc không biết gì. Chính vì vậy bài báo này sẽ nghiên cứu, phân tích các đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản tiếng Anh tài chính- kế toán- ngân hàng (TC-KT-NH) nhằm cung cấp cho sinh viên tiếng Anh nói chung và sinh viên chuyên ngành nói riêng những hiểu biết cần thiết khi đọc một văn bản tiếng Anh TC-KT-NH.
2.      Đặc trưng  trong một văn bản chuyên ngành (VBCN)
Trước hết cần nêu rỏ tính đặc trưng của tiếng Anh chuyên ngành (TACN) mà trong đó có TA y khoa, TA sinh học, TA kỷ thuật, TA thương mại…vv. là nằm ở từ vựng (lexicon). Dù chiếm một tỷ lệ khá khiêm tốn trong một văn bản: 5%-10% (Newmark, [ 6,151]), : 9% (Inman, dẫn theo Hutchinson và Waters tr.166.) nhưng lại là thách thức lớn nhất cho người học, người đọc, người dịch VBCN.
3.      Đặc trưng trong một văn bản TC-KT-NH
Thứ đến cần lưu ý thêm TA thương mại là một chuyên ngành lớn mà nghĩa của từ thường liên quan đến một chủ đề/nhiều chủ đề, một môn học/nhiều môn học, cụ  thể như kế toán, tài chính, ngân hàng, quản trị…Các từ ngữ có nghĩa một chủ đề/một môn học như ‘balance sheet’: bảng cân đối kế toán (kế toán), ‘building society’: tổ chức tín dụng nhà ở (tài chính), ‘deposit’: tiền gởi  (ngân hàng), ‘golden hello’: tiền thưởng đầu quân (quản trị), ‘loss leader’: hàng bán câu khách (tiếp thị). Các từ ngữ có nghĩa hơn một chủ đề/ một môn học như  ‘amortize’:1. khấu hao (kế toán), 2. trả (nợ) dần (tài chính). ‘above-the-line’: 1. trên vạch (kế toán), 2. chi phí quảng cáo bằng các phương tiện truyền thông đại chúng (tiếp thị). Riêng từ ‘turnover’ có nghĩa ở 4 chủ đề: 1. doanh thu (kế toán), 2. vòng luân chuyển (quản trị), 3. sự quay vòng hàng hóa (thương mại), 4. doanh số (tài chính), hơn nữa, nghĩa của từ (các khái niệm chuyên ngành và các khái niệm mới của chuyên ngành) thường nằm ở từ đơn như ‘due’: (về một số tiền/ nợ) phải trả/ đến hạn, từ ghép như ‘sleeping beauty’: một công ty tiềm tàng tài chính chưa được để mắt tới, cụm từ như ‘pay-as-you-earn’: đóng thuế thu nhập ngay khi nhận lương, cụm giới từ như ‘above par’: trên mệnh giá, cụm động từ như ‘turn over’: có doanh thu…vv và một số đặc trưng khác mà chúng tôi sẽ đề cập trong bài báo.
4.      Đặc trưng về phương thức cấu tạo hệ thuật ngữ TC-KT-NH
4.1 Từ đơn ( simple words )
Theo Greenbaum [2,439], một số từ trong các từ thường dùng trong tiếng Anh là từ đơn (simple words): những từ ta không thể  chia thành những bộ phận nhỏ hơn. Trong tiếng Anh KT-TC-NH, ta có thể gặp các từ đơn như: 1. asset: tài sản có. 2. bear: người đầu cơ giá xuống. 3. capital: vốn. 4. debit: bên có. 5. earnings: thu nhập. 6. fraud: lừa đảo….Tuy nhiên, cũng theo Greenbaum, hầu hết các từ là từ  kép (composite words) vì chúng có cấu trúc bên trong có thể nhận ra được. Tiếng Anh TC-KT-NH có tính từ ‘friendly’: (về một cố gắng mua/ kiểm soát một công ty) đươc chấp nhận, được đồng thuận. Tính từ này gồm ‘friend’ + ‘ly’. Vì từ ‘friend’ là một từ đơn, nay được nối với phụ tố ‘ly’ thành một từ kép. Trong văn bản TC-KT-NH ta có thể bắt gặp các từ kép: 1. advancer: cổ phiếu tăng giá. 2. decliner: cổ phiếu sụt giá. 3. dishonour: từ chối trả tiền mặt ( một tờ séc). 4. unfriendly: (về một cố gắng mua/ kiểm soát một công ty) không được chấp nhận, không đươc đồng thuận. 5. allowance: miễn thuế. 6. securitization: chứng khoán hóa. Phụ mục I sẽ cung cấp các từ đơn (gồm từ đơn và kép) mà ta thường gặp trong văn bản tiếng Anh TC-KT-NH.
4.2  Danh  từ ghép (compound words)
Theo  Close [1,120] danh từ ghép gồm hai từ (hoặc nhiều hơn) kết hợp với nhau để tạo ra một đơn vị từ vựng duy nhất. Theo từ điển tiếng Anh thương mại (NXB Longman) [10,vi], danh từ ghép chiếm một bộ phận lớn tiếng Anh thương mại. Đây cũng là một trong bốn tiến trình dẩn đến việc thành lập từ mới [2,441]. Newmark [6,145] cho rằng các kết hợp mới (danh từ ghép hoặc tính từ với danh từ) đặc biệt phổ biến trong khoa học xã hội và trong ngôn ngữ vi tính. Nguyễn và Tôn [8] cho rằng tính kết hợp (collocations) của danh từ ghép là đặc trưng phổ biến nhất trong hệ thuật ngữ TC-KT NH.Trong một sưu tập về tính kết hợp của danh từ ghép của  thuật ngữ KT-TC-NH trong từ điển tiếng Anh thương mại (NXB Longman) của hai tác trên cho thấy từ ‘account’ có 65 từ (gồm danh từ, tính từ, cụm từ) kết hợp với nó; từ ‘asset’ có 13 từ kết hợp; từ ‘balance’ có 14 từ kết hợp; ..v.v.
Một số từ ghép được thành lập bởi động từ + giới từ cũng góp phần vào thuật ngữ TC-KT-NH như: ‘buy-back’ (mua lại), ‘buy-in’ (thôn tính), ‘take out’ (rút(vốn)ra), ‘take-over’ (tiếp quản/thôn tính), ‘turn-over’ (xin xem nghĩa ở trên), ‘write-back’ (bút toán lại/vào sổ lại), ‘write-down’ (bút toán giảm), ‘write-off’ (bút toán xóa bỏ), ‘write-up’ (bút toán tăng). Một vài từ ghép, tiêu biểu là tiếng Anh pháp lý, theo khuôn mẫu ‘danh từ số nhiều’ + ‘tính từ’ như: ‘attorneys-general’ (viên chưởng lý), ‘courts martial’ (tòa án quân sự), ‘notaries public’ (công chứng viên) cũng thấy có mặt trong tiếng Anh TC-KT-NH như: ‘accounts payable’ (số tiền phải trả), ‘accounts receivable’ (số tiền phải thu được), ‘shares outstanding’ (những cổ phiếu trong tay cổ đông)…vv.  Phụ lục II sẽ cung cấp các danh từ ghép thường được dùng phổ biến trong lĩnh vực tiếng Anh TC-KT-NH.
Xin nêu một số kết hợp dù chỉ là một vài ví dụ minh họa nhưng cũng nói lên đươc chính ‘chúng’ là thách thức lớn nhất cho người đọc, người dịch văn bản KT-TC-NH: (dormant) account, (liquid) asset, (idle) balance, (baby) bond, (flight) capital, (red-chip) company’ v.v.
4.3  Cụm từ (phrasal words)
Một số cụm từ có chức năng như tính từ/trạng ngữ vốn được chuyển loại (conversion) từ cụm giới từ như ‘under the weather’: (khó ở/không khỏe) thành tính từ như ‘an under-the-weather feeling’: (một cảm giác không khỏe) dù không phổ biến cũng thấy có trong tiếng Anh KT-TC-NH  như: ‘above par’: (trên mệnh giá), ‘below par’: (dưới mệnh giá), ‘above-the-line’: (xin xem nghĩa trên ở mục 3), ‘below-the-line’: (1.dưới vạch. 2. chi phí quảng cáo không phải bằng phương tiện truyền thông đại chúng)      
4.4  Cụm động từ (phrasal verb)
Là các động từ gồm hai  hoặc nhiều từ. Theo Close [1,25], các cấu trúc theo khuôn mẩu ‘động từ + giới từ + ngữ danh từ’ vốn rất phổ biến trong tiếng Anh nhưng riêng tiếng Anh TC-KT-NH ta thấy chúng hiện diện không nhiều, có thể nêu một số cụm động từ mà ta có thể gặp trong văn bản tiếng Anh TC-KT-NH như: 1. to buy out: mua thôn tính. 2. to bring /carry forward: mang sang. 3. to carry down: mang xuống. 4. to take out: rút (vốn) ra. 5. to take over: tiếp quản /mua thôn tính. 6. to write back: bút toán lại. 7. to write down: bút toán giảm…vv.
4.5  Ngữ danh từ có tiền bổ ngữ và hậu bổ ngữ dài(long premodified and postmodifie noun phrases)
Một đặc trưng khá phổ biến khác trong hệ thuật ngữ TC-KT-NH (có thể nói sau cấu trúc danh từ ghép) là các ngữ danh từ có tiền bổ ngữ và hậu bổ ngữ dài. Các ngữ danh từ có tiền bổ ngữ dài thường gặp trong lĩnh vực này như: 1. public sector borrowing requirement: nhu cầu vay cho khu vực nhà nước. 2. public sector lending requirement: nhu cầu cho vay của khu vực nhà nước. 3. pay-in-kind debenture: giấy vay nợ được trả lãi bằng hiện vật   . 4. acid test ratio: tỷ số thử nghiệm khả năng thanh toán. 5. accelerated cost recovery system: chế độ thu hồi nhanh chi phí. 6. accounts receivable turnover: vòng quay số tiền thu được…vv. Ngoài các ngữ danh từ nêu trên, ta còn bắt gặp các ngữ danh từ có hậu bổ ngữ dài trong tiếng Anh TC-KT-NH như: 1. lender of last resort: người cho vay cuối cùng phải cần đến. 2. law of diminishing returns: định luật mức thu lợi giảm dần. 3. return on capital employed: thu lời trên vốn sử dụng. 4. balance brought down: số dư mang xuống. 5. amounts falling due after one year: số tiền đến hạn phải trả sau một năm.6. work(s) in progress/process: hàng đang dang dở...vv.
4.6  Từ viết tắt (abbreviations)
Phổ biến nhất trong tiếng Anh TC-KT-NH là từ viết tắt bằng một con chữ/các con chữ của một từ (acronyms). Một con chữ đại diện cho một từ như thuật ngữ: ‘C.O.D’(cash on delivery: nhận tiền mặt khi giao hàng) hoặc đại diện cho những thành phần của một danh từ ghép như: ‘H.Q’ (headquarters: trụ sở chính) hoặc những con chữ chỉ đại diện cho các phần của một từ như: ‘deb’ cho ‘debenture’: giấy vay nợ. Những từ viết tắt này đôi lúc khá quen thuộc với sinh viên KT-TC-NH nhưng lại xa lạ đối với sinh viên ngành khác khi gặp chúng trong một chủ đề tài chính. Xin xem một số ví dụ sau:
a. Why do most M&A’s fail ? (mergers and acquisitions: sáp nhập và mua bán)
b. They predict an increase in EBIT of 23%. (earnings before interest and taxes: thu nhập trước lãi vay và thuế )
c. EBITDA is expected to reach $ 2 billion this year. (earnings before interest, taxes, depreciation, and amortization: thu nhập trước lãi vay, thuế và khấu hao)
4.7  Văn hóa trong từ vựng TC-KT-NH

Thuat Ngu Y Hoc Tieng Anh-Mot So Van De Co Ban

THUẬT NGỮ Y HỌC TIẾNG ANH – MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN
ENGLISH MEDICAL TERMINOLOGY – SOME BASIC PROBLEMS
Nguyễn Phước Vĩnh Cố
Trường Đại học Ngoại ngữ – ĐHĐN
TÓM TẮT:
Các thuật ngữ y học (TNYH) tiếng Anh như Otorhinolaryngology, electroencephalography, pseudohypoparathyroidism, arteriosclerosis…” thoạt nhìn có vẻ phức tạp.  Lý do chính là khoảng 3/4 TNYH tiếng Anh có nguồn gốc từ Hy Lạp/La Tinh mà giờ đây đã không còn phổ biến sâu rộng trong giảng dạy.  Tuy nhiên các thuật ngữ như thế lại không khó hiểu lắm nếu chúng được phân thành các bộ phận có nghĩa.  Bài báo sẽ giới thiệu cho người học các bộ phận cấu thành từ YH tiếng Anh.  Một khi biết được cấu trúc TNYH cơ bản và các bộ phận này hợp thành như thế nào thì người học sẽ “xây dựng” và hiểu được gần như bất kì một TNYH nào.  Bài báo cũng nêu một số giải pháp dịch từ YH vốn là một thách thức cho người dịch.

ABSTRACT:
           The English medical terms like “Otorhinolaryngology, electroencephalography, pseudohypoparathyroidism, arteriosclerosis…” may seem complicated at first glance. The main reason is that around 3/4 of medical terms comes from Greek or Latin, which is now no longer used widely in language teaching. However, they are not difficult to master if broken down into meaningful parts.  The learners will be given the various parts (roots, prefixes, and suffixes) that make up medical terms in this paper.  Once they learn the basic medical term structure and how these parts fit together, they will be able to build and understand almost any medical term.  The paper also deals with some solutions to translating medical terms which can be a challenge for  translators.
1. Giới thiệu
Cách đây không lâu (2007) báo Pháp luật (số 043 (1313), ngày 28 tháng 3 năm 2007) có đăng tin về một công nhân xuất khẩu bị đột tử tại Malaysia nhưng theo các giấy tờ của các cơ quan có trách nhiệm thì nguyên nhân cái chết lại mâu thuẫn nhau. Giấy chứng tử của Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia ghi anh chết vì “bệnh phổi” nhưng sau đó cơ quan này có một giấy chứng nhận khác ghi là do “bệnh tụy” giấy xác nhận của các chuyên gia y tế Malaysia ghi là do “xuất huyết viêm tuyến tụy cấp”. Giấy báo tử của Cục Đăng ký khai sinh, khai tử lại nêu lý do chết là “xuất huyết lá lách cấp tính” và gần đây nhất (18/3/2009) trên các báo Việt Nam có đăng tin thông báo về sai sót trên nhãn lọ vắc-xin phòng 3 bệnh (sởi, quai bị, rubella). Đáng lý phần hướng dẫn ghi dòng “tiêm dưới da” thì lại ghi dùng “tiêm bắp”. Có thể rút ra điều gì sau khi đọc các tin trên: Sự tắc trách (có thể) nhưng thử nhìn từ góc độ tiếng Anh y học (YH) chúng ta có thể giả định sự nhầm lẫn nói trên là do hệ thuật ngữ (HTN).
Giả định 1: có thể hai cơ quan có trách nhiệm của Malaysia nêu nguyên nhân cái chết của anh công nhân là: 1. acute hemorrhagic pancreatitis (xuất huyết viêm tuyến tụy cấp). 2. acute splenorrhagia (xuất huyết lá lách cấp tính). Nhưng khi dịch những TN này sang tiếng Việt có thể có sự nhầm lẫn (giả định người dịch không am hiểu TNYH).
Giả định 2: những ai có kiến thức YH cơ bản đều biết các đường chích thông thường là: 1. trong da/ dưới da. 2 .trong cơ (tiêm bắp). 3. trong tĩnh mạch. Tuy nhiên nếu thiếu kiến thức cơ bản về TNYH  thì các từ tiếng Anh sau: intracutaneous, intradermal, subcutaneous, intramuscular, hypodermic từ nào là tiêm dưới da, từ nào là tiêm bắp thì có thể giả định việc sai sót khi chuyển dịch như đã đề cập là có thể do TNYH1 . Điều này đúng với nhận xét của Peter Newmark [4,151] “Dịch kỹ thuật được phân biệt với các hình thái khác chủ yếu bởi hệ thuật ngữ” (Technical translation is primarily distinguished from other forms of translation by terminology). HTN khoa học-kỹ thuật (KH-KT) trong đó có YH vốn có những đặc trưng riêng biệt mà người học, người dịch cần lưu tâm.
2. Các đặc trưng của một văn bản YH
Nguyễn Phước Vĩnh Cố và Nguyễn Bắc Nam cho [5,3] cho rằng có hai đặc trưng cơ bản trong một văn bản KH-KT:
a) nguồn gốc HTN. b) biến thể của ngôn ngữ.
2.1. Nguồn gốc HTN
Trước hết HTNYH thường là từ La tinh hay Hy Lạp như:
Otorhinolaryngology, electroencephalography, pseudohypoparathyroidism, arteriosclerosis…
Theo Alison Pohl [8,4] gần ¾ TNYH tiếng Anh đều lấy gốc ở các từ tiếng Hy Lạp hoặc La tinh mà hiện nay không còn phổ biến sâu rộng nữa. Người mới bắt đầu tiếp cận với các văn bản YH tiếng Anh không khỏi thấy lúng túng khi gặp phải các thuật ngữ như: cardiosclerosis, aortorraphy, arteriopathy, haemorrhagia, thrombophlebitis, pulmonary emphysema.
2.2. Biến thể của ngôn ngữ:
Kế đến HTN này còn được gọi là “ biến thể ngôn ngữ” được ghi nhận có hai chiều.
2.2.1. Phương ngữ: Chiều thứ nhất là phương ngữ (dialect): loại biến thể này được sử dụng phổ biến trong một cộng đồng/nhóm người cụ thể. Một trong những biến thể đặc trưng nhất trong văn bản YH tiếng Anh là loại phương ngữ địa lý (geographical) giữa tiếng Anh-Anh và Anh-Mỹ. Xin xem 1 vài ví dụ:
Anh: aetiology, pyorrhoea, operating theatre, congestive cardiac failure, chronic obstructive airways disease, cervical smear.
Mỹ: etiology, pyorrhea, operating room, congestive heart failure, chronic obstructive pulmonary disease , Pap smear.
Đặc biệt từ viết tắt của từ electrocardiogram (điện tâm đồ) thì người Anh dùng ECG còn người Mỹ dùng EKG.
2.2.2. Ngữ vực: Chiều thứ hai là ngữ vực (register): loại biến thể, mà người sử dụng ngôn ngữ xem xét phù hợp cho một tình huống cụ thể. Căn cứ vào từ vựng YHYH, Peter Newmark [4,153] đề xuất 3 cấp độ sau:
a. Hàn lâm (academic): Đây là những thuật ngữ được chuyển ngữ từ tiếng La tinh và Hy Lạp thường được sử dụng trong các bài báo học thuật như thuật ngữ “phlegmasia alba dolens”.
b. Chuyên môn (professional): Là các từ trang trọng do các nhà chuyên môn sử dụng như: epidemic parotitis (viêm tuyến mang tai), varicella (thủy đậu), scarlatina (tinh hồng nhiệt), tetanus (uống ván)…
c. Phổ thông: (popular): Ngữ vựng dành cho những người không chuyên, thường là các từ quen thuộc, có thể dùng thay thế các từ chuyên môn như: “mumps (quai bị) thay cho “epidemic parotitis”, “chicken-pox” (thủy đậu) thay cho “varicella”, “scarlet fever” (tinh hồng nhiệt) thay cho “scarletina”
3. Một số vấn đề cơ bản về phương thức cấu tạo và ngữ nghĩa của HTNYH
TNYH thoạt nhìn trông hết sức rối rắm. Các từ như “otorhinolaryngology”, “electroencephalography”… có vẻ như thách thức người dịch/người học về cách phát âm, về ngữ nghĩa. Tuy nhiên xét về mặt hình thái học, những từ như thế được tạo thành từ việc ghép các bộ phận nhỏ hơn, đơn giản hơn. Theo Ralph Rickards [9,7] nếu biết nghĩa của những bộ phận nhỏ hơn thì thường có thể suy ra được nghĩa của một thuật ngữ phức hợp. Ví dụ “otorhinolaryngology” có thể được phân thành:
Oto. rhino. laryngo. logy
                                    Oto           Rhino     Laryngo       Logy
(tai)             (mũi)   (thanh quản)   (sự nghiên cứu). Vậy “otorhinolaryngology” có nghĩ là môn học về “tai, mũi, họng”. Cần lưu ý từ “otorhinolaryngology” nay được gọi gọn hơn “otolaryngology” trong tiếng Anh – Mỹ.
3.1. Gốc từ (roots), tiền tố (prefixes) và hậu tố (suffixes) của HTNYH
Cũng như từ vựng phổ thông, TNYH thường gồm ba bộ phận: a. gốc từ b. tiền tố (âm/từ thêm vào trước gốc từ) c. hậu tố (âm/từ thêm vào sau gốc từ). Ba bộ phận này thường có gốc Hy Lạp/La tinh. Nhìn chung, gốc từ Hy Lạp chỉ có tiền tố và hậu tố gốc Hy Lạp. Ví dụ gốc từ Hy Lạp  “arter”/arteriocó nghĩa là “động mạch” thường đi với hậu tố Hy Lạp “pathy” chỉ “bệnh” sẽ cho một từ “arteriopathy” có nghĩa là “bệnh động mạch”. Trái lại gốc từ La tinh “vagin”/ “vagin(o)” (âm đạo) lại thường đi với hậu tố La tinh “scope” (chỉ dụng cụ dùng để quan sát/khám nghiệm) sẽ cho từ “vaginoscope” có nghĩa là “cái mỏ vịt”. Tuy nhiên cũng tìm thấy một số TN ngoại lệ như: “vaginopathy” (bệnh âm đạo) “colposcope” (cái mỏ vịt).
3.2. Nghĩa của gốc từ “hệ tim mạch“ và sự kết hợp của các gốc từ này với các hậu tố chỉ sự “rối loạn”/ “bệnh tật”
Để hiểu được một số lượng lớn TNYH (có gốc Hy Lạp/La tinh) điều quan trọng là cần biết nghĩa của gốc từ, tiền tố và hậu tố vì số TN thường dùng này rất nhỏ nhưng một số phương thức khác nhau mà chúng có thể kết hợp thì rất lớn. Trong tiếng Anh hệ tim mạch có khoảng 10 gốc từ2: 1. cardi(o)- (tim) 2. aorto- (động mạch chủ) 3. arteri(o)- (động mạch) 4. phleb(o)- (tĩnh mạch) 5. ven(o)- (tĩnh mạch) 6. angi(o)- (mạch máu) 7. vas(o)-(mạch máu) 8. haemat(o)- (máu/huyết) 9.sanguin(o)-(máu/huyết)10.thromb(o)- (huyết khối). Lấy 2 gốc từ “cardi(o)- phleb(o)-khi kết hợp với một số hậu tố chỉ “bệnh”/”rối loạn” như –“itis” (viêm) –“pathy” (bệnh) hoặc các hậu tố chỉ phương thức phẫu thuật như “-tomy” (mổ, rạch, cắt) “rrhaphy” (khâu) ta sẽ có từ “cardi+itis” -> carditis (viêm tim) cardio+pathy -> cardiopathy (bệnh tim), cardio + rrhaphy -> cardiorrhaphy (khâu tim), cardio + tomy -> cardiotomy (mổ tim) phlebo + tomy -> phlebotomy ( mổ tĩnh mạch). Gốc từ “cardi(o)- cũng có thể kết hợp một số tiền tố như “tachy” (nhanh) “brady” (chậm), “peri” (ngoài), “endo” (trong) cho ta một số từ như “tachycardia” (nhịp tim nhanh) “bradycardia” (nhịp tim chậm) “pericarditis” (viêm ngoại tâm mạc), “endocarditis” (viêm nội tâm mạc).
4. Giới từ và tính từ trong HTNYH
4.1. Giới từ:
Các tiền tố đóng vai trò giới từ trong TNYH là từ được dùng trước một gốc từ để biểu thị nơi chốn hoặc vị trí. Chúng thường được dùng trong mô tả giải phẩu hoặc trong báo cáo của bác sĩ để xác định vị trí của một triệu chứng hoặc tổn thương trên cơ thể. Lấy lại gốc từ “cardi(o) làm  thí dụ khi kết hợp với các tiền tố đóng vai trò giới từ như “endo” (bên trong) sẽ cho các từ “endocardial” (ở trong tim) “endocardium” (màng trong tim) và “exo” (bên ngoài) sẽ cho từ “exocardial” (bên ngoài tim) … Chúng được chia làm 2 loại chính: a.các tiền tố đóng vai trò giới từ chỉ vị trí như: “endc(o)”/”ento”/”intra” (trong), “meso”/”medi”/”inter” (giữa), “ect”/”exo”/”extra” (bên ngoài)… b. các tiền tố đóng vai trò giới từ chỉ sự chuyển động như: “dia” / “per” / “trans” (qua, xuyên qua), “ana” (trên/lên), ‘cata”/”de” (dưới, xuống).
4.2. Tính từ:
Giống như giới từ, một số lượng lớn tiền tố (Hy Lạp/La tinh) đóng vai trò tính từ khi chúng được đặt trước gốc từ/gốc từ đã được kết hợp với một số hậu tố. Một gốc từ có thể biến đổi thành nhiều từ có nghĩa khác nhau bởi những tiền tố như thế. Một lần nữa ta sẽ dùng gốc từ “cardi(o)” làm ví dụ khi nó kết hợp với các tiền tố đóng vai trò tính từ như “pan” (toàn, tất cả) sẽ cho từ “pancarditis” (viêm toàn tim) “micro” (nhỏ) sẽ cho từ “microcardia” (tật tim nhỏ) v.v. Các tính từ này được phân cụ thể theo từng loại:
1. số lượng: ví dụ: a. “poly” a(nhiều, đa) b. “olig” (ít, thiếu) c. “pan” (tất cả) d. ‘an/a” (không có, thiếu).
2. số: a. “hemi”/”semi” (phân nữa bán) b. “mono”/”un” (một, đơn) c. “di”/”bi” (hai, nhị) d. “tri”/”ter” (ba, tam).
3. kích cỡ và hình dáng: a. “normal”/”ortho” (bình thường, thẳng) b. “ankyl” “kyph” (cong) c. “sten” (hẹp) d. “mega”/”macro” (rộng).
4. màu sắc: a. “leuc, leuk”/alb (trắng) b.”melan” (đen) c. “polio” (xám) d.erythr (đỏ).
5. các chất: a. “hydro” (nước) b. “lact” (sữa) c. “glu, glyc/”sacchar” (đuờng) d. “amyl” (tinh bột).
6. mối quan hệ với con người: a. “andr” (nam giới) b. “gyn (ec) (nữ giới) c. “paed” (trẻ con) d. “ger(on)” (người già).
7. một số tiền tố có chức năng tính từ khác như: a. “chron” (thời gian) b. “nyct”/”noct” (đêm) c. “men” (tháng) d. “tachy” (nhanh) c. “brady” (chậm) “pachy” (dày) scler (cứng).
5. Từ viết tắt trong TNYH
Trong hệ thống từ vựng tiếng Anh, thường có 3 dạng viết tắt: 1. phương thức gộp (blends) 2. phương thức rút gọn (clipping) 3. phương thức viết tắt của từ/cụm từ bằng 1 âm tiết đầu (acronyms). Tuy nhiên trong TNYH tiếng Anh thường gặp nhất vẫn là hai phương thức cuối.
5.1. Phương thức rút gọn: Có 3 dạng a.rút gọn phần đầu từ (rất hiếm thấy) b. rút gọn phần cuối từ: Ví dụ: laboratory -> lab c. rút gọn vừa phần đầu từ vừa phần cuối từ: ví dụ: influenza -> flu.
5.2. Phương thức viết tắt của từ/cụm từ bằng 1 âm tiết đầu/cụm chữ đầu: Có 2 dạng a. các con chữ đại diện cho mỗi từ. Ví dụ: VD (veneral disease): bệnh hoa liễu, ENT (ear, nose, throat): tai, mũi, họng, MRT (magnetic resonance imaging) (chụp cộng hưởng từ) CT (computed/computerised tomography): chụp cắt lớp điện toán. b.các con chữ đại diện cho các yếu tố trong 1 danh từ ghép hoặc các yếu tố chỉ những bộ phận của từ. Ví dụ TB (tuberculosis): bệnh lao, CV (cardiovascular): thuộc hệ tim mạch.
6. Thuật ngữ YH tiếng Anh dưới góc nhìn dịch thuật
6.1. Hệ thuật ngữ
Đây là thách thức lớn nhất cho người dịch/người đọc văn bản YH. Có 2 nguyên nhân chính những nguyên nhân đầu tiên phải nói đến là nguồn gốc HTN. Như đã đề cập [2.1] 3/4 TNYH tiếng Anh đều có gốc từ tiếng Hy Lạp và La tinh vốn là những ngôn ngữ  nay ít sử dụng trong tiếng Anh hiện đại. Để rõ vấn đề hơn, ta có thể quay trở lại cái chết của người công nhân (xin xem phần 1), nếu giấy báo tử ghi nguyên nhân cái chết là “pulmonary disease” thì hẳn sẽ không có vấn đề gì đối với người dịch. Tuy nhiên nếu “bệnh phổi” mà ghi cụ thể các từ sau: 1. “pneumonia” (viêm phổi, phế viêm) 2. “pneumonitis” (viêm thành phế quản) 3. “bronchitis” (viêm phế quản, viêm thành phế nan) 4. bronco-pneumonia” (phế quản, phế viêm) 5. “pleuricy” (viêm màng phổi), thì dịch “kỹ thuật” đúng với nhận xét của Peter Newmark (xin xem phần 2), hơn nữa, nếu thiếu kiến thức về nguồn gốc HTN (gốc từ, tiền tố và hậu tố…) người dịch có thể nhầm lẫn “arthrosis” (bệnh thấp khớp) với “arthritis” (viêm khớp) “hypertension” (tăng huyết áp) với “hypotension” (hạ huyết áp). Nguyên nhân thứ hai là “biến thể ngôn ngữ” ( hay còn gọi là “biến thể phong cách kỹ thuật” nói nôm na là tính chuyên môn/nghề nghiệp và được hiểu là mức độ chúng ta sử dụng các từ ngữ từ các ngành nghề cụ thể một cách chính xác hơn. Xét từ các cấp độ do Peter Newmark đề xuất [153], cấp độ chuyên môn (professional) vốn là các từ trang trọng do các nhà chuyên môn sử dụng như: “acute cerebrovascular event” (tai biến mạch máu não) “dyspnoea” (khó thở) “haematuria” (huyết niệu) “myocardial infarction” (nhồi máu cơ tim) “nocturia” (chứng tiểu đêm) vừa lạ vừa khó hơn các ngữ vựng phổ thông như “stroke” (đột quỵ) “breathlessness (khó thở) “blood in the urine” (nước tiểu có máu) “heart attack” (suy tim) “needing to pass urine at night” (muốn tiểu đêm)… v.v. Hai ví dụ sau sẽ cho ta thấy từ “management” khó dịch hơn từ “treatment” dù chúng đồng nghĩa:
-          Penicillin is used in the treatment of a wide range of illneses.
-          Diet plays an important role in the management of heart disease.
6.2. Từ mới
Peter Newmark [4,152] cho rằng khó khăn chủ yếu trong dịch kỹ thuật thường là từ mới (the central difficulty in technical translation is usually the new terminology). Nhận xét này cho thấy người dịch sẽ gặp khó khăn khi gặp phải các TNYH mới như: “andropause” “tummytuck” … mà hiện nay vẫn vắng bóng ở từ điển YH Anh – Việt và kể các từ diển Oxford. Phần lớn từ mới trong YH vốn là những thách thức cho người dịch/người đọc văn bản YH. Những khó khăn liên quan đến HTNYH thuộc các loại sau: a. từ cũ nhưng nghĩa mới b. từ lóng c. từ viết tắt d. ghép danh nhân.
6.2.1. Từ cũ có nghĩa mới (old words with new senses)
Một số từ như “bypass” (đường vòng) “waterworks” (nhà máy nước) vốn khá quen thuộc với người học tiếng Anh nay có thêm nghĩa mới thuộc lĩnh vực YH như “phẫu thuật bắc cầu” (bypass) “hệ tiết niệu” (waterworks) hay từ “bypass” kết hợp với từ “cardio-pulmonary” cho ra từ “cardio-pulmonary bypass” có nghĩa “tim phổi nhân tạo” chỉ “một phương pháp trong đó sự tuần hoàn tới cơ thể vẫn tiếp tục trong khi ngừng tim để giải phẫu. Chức năng của phổi và tim được thực hiện bởi 1 máy bơm (máy tim phổi) cho tới khi sự tuần hoàn tự nhiên được tái lập [7,153].
6.2.2. Từ lóng (slangs)
Từ lóng trong lĩnh vực YH cũng được xem là từ giả mới (pseudo-neologism). Người dịch văn bản YH ắt phải gặp khó khăn khi gặp từ “cabbage” mà thực ra là một từ lóng thay cho “coronary artery bypass (việc phẩu thuật tạo vòng nối động mạch vành) hoặc từ “coronary artery bypass graft (CABG).
6.2.3. Từ viết tắt (abbreviations)
Cũng như từ lóng, từ viết tắt như “CABG” cũng là 1 vấn đề của dịch thuật. Có thể phân 2 dạng từ viết tắt trong YH. Một dạng cho người có chuyên môn như các từ “CVS” viết tắt của từ “cardiovascular system”, từ “GUS” viết tắt của từ “genito-urinary system… Ngoài ra còn gặp các từ viết tắt có gốc La tinh  như b.d/b.i.d (ngày 2 lần), t.i.d/t.d.s (ngày 3 lần) q.d.s/q.i.d (ngày 4 lần), p.c (sau ăn)… thường gặp ở bệnh án. Dạng còn lại dành cho người không chuyên môn (vốn khá phổ biến như) “VD” (veneral disease) “flu” (influenza) OCT (over the counter)… Đáng chú ý các từ viết mà ở ngôn ngữ gốc cũng như ngôn ngữ dịch đều quan trọng thì chúng có thể khác biệt ở cả 2 ngôn ngữ “DNA” (deoxyribonucleic acid) tiếng Anh thành “ADN” (axit deoxyribonucleic) ở tiếng Việt, “MAOI” (monoamine oxidase inhibiters) ở tiếng Anh thành “IMAO” ở tiếng Pháp.
6.2.4. Ghép nhân danh (eponyms)
Trong lĩnh vực YH, ghép nhân danh là 1 bệnh, một cấu trúc hay một loại sinh vật đặt tên theo một người đặc biệt thường là người khám phá hay mô tả đầu tiên [7,341]. Việc ghép nhân danh khá phổ biến trong tiếng Anh YH nhưng hiện đang được thay thế bởi các thuật ngữ mô tả. Ta sẽ bắt gặp từ ghép nhân danh “tiểu đảo Langerhans” (islet of Langerhans) sẽ thành “tiểu đảo tụy tạng” (pancreatic islands), hơn nữa, nhìn từ góc độ dịch thuật, các từ ghép nhân danh có thể được hiểu ở quốc gia này nhưng lại khó hiểu ở quốc gia khác. Thí dụ từ “Willis’s pancreas / Winslow’s pancreas (tiểu tụy) chỉ biết ở tiếng Anh nhưng ở tiếng Việt người ta chỉ biết từ “tiểu tụy”. Vì vậy khi gặp từ “Caesarean section/operation” nên dịch là sinh mổ, từ “Röntgenography” nên dịch bằng 1 từ chuyên môn tương đương là “chụp X-quang”.
7. Kết luận
Phải thừa nhận rằng kiến thức về HTN đóng 1 vai trò quan trọng trong dịch chuyên ngành. Vì vậy các nghiên cứu về ngữ vực (2.2.2) là cần yếu cho người dịch YH: văn bản sau đây có nhan đề “Dental Public Health and Disease Prevention” được đăng trong tạp chí “World Health Forum” là 1 ví dụ sinh động về khó khăn của người dịch khi gặp phải “ngữ vực chuyên ngành” (xin lưu ý các từ in đậm).
Oral health care does not have the makings of a dramatic issue.  Very few people die of oral disease, and its effect on the economies of nations is significant.  Yet very few people manage to avoid oral disease, and the two major variants-dental caries and periodontal disease- can and do cause irreversible damage.  In the process, dental caries can cause some of the most serve pain that the average person is likely to experience in his lifetime.  In 1987 a national survey in the United Kingdom, where 4% of the national health budget is spent on dental care, showed that 30% of the adult population was edentulous. [3,55]
Nhưng bí quyết để đọc/dịch 1 văn bản chuyên ngành nêu trên thành công không chỉ dừng lại ở chỗ: “dental caries” là “sâu răng” “periodontal disease” là “bệnh nha chu”, “edentulous” là “không răng”, nói 1 cách khác là không chỉ đi tìm nghĩa tương đương cho từ mà còn là như một ai đó nói [10,200]: để hiểu 1 văn bản YH ở một ngôn ngữ, người ta phải đọc (nó) như một bác sĩ hoặc y tá hoặc nhà quản lý bệnh viện… ở ngôn ngữ đó, để dịch văn bản YH đó có hiệu quả sang một ngôn ngữ khác, người ta phải viết như một bác sĩ (hoặc đại loại như vậy) ở ngôn ngữ khác đó.
Tài liệu tham khảo
1. Bùi Phương Nga & Nguyễn Quang (2003), English for Medical Student, Hue Medical College.
2. Glendinning, E.H & Howard, R (2009), Professional English in Use – Medicine, NXB Đồng Nai.
3. Hatim, B & Mason, I (1990), Discourse and the Translator, Longman.
4. Newmark, P (1988), A Textbook of Translation, Prentice Hall International.
5. Nguyễn Phước Vĩnh Cố & Nguyễn Bắc Nam (2007), ‘Một số điều cần lưu ý khi dịch một văn bản khoa học – kỹ thuật từ tiếng Anh sang Tiếng Việt’, Kỷ yếu hội thảo công tác dịch thuật và đào tạo cử nhân phiên-biên dịch lần thứ 1_ trang 3_11, Đại học Ngoại Ngữ, Huế.
6. Norman, R & University, S (2003), Let’s Examine the Text (English in medicine), revised and added by Lê Minh Diệu & Nguyễn Thị Diễm Thi.
7. Phạm Ngọc Trí (2004), Từ điển Y Học Anh-Việt, NXB Y học.
8. PohL, A (2009), Test your Professional English Medical, NXB Đồng Nai.
9. Rickards, R (2005), Understanding Medical Terms (Trần Văn Tiềm biên dịch), NXB Tổng Hợp t.p Hồ Chí Minh.
10. Robinson, D (1997), Becoming a Translator, Routledge.
1. Để minh chứng các giả định trên cũng như nhận xét của Peter Newmark, có thể xem sự nhầm lẫn về TNYH trong cuốn từ điển Anh-Việt (Nxb tp HCM,1998) là một ví dụ. Đây là cuốn từ điển được chuyển dịch từ cuốn từ điển tường giải “Oxford Advanced Learner’s Dictionary (1992). Cụm từ “sex organs” (i.e penis, vagina, etc trong từ điển Oxford tr.831) được chuyển dịch thành “cơ quan sinh dục”, tức dương vật, âm vật trong từ điển Anh-Việt tr.1589. Thực ra âm vật là một từ khác, nếu có kiến thức về TNYH thì từ vagina phải được dịch là âm đạo. Danh sách về sự nhầm lẫn TNYH không dừng lại ở ví dụ nói trên. Trong một Phiếu Chỉ Định của bệnh viện đa khoa Hoàn Mỹ Đà Nẵng từ nội soi niệu quản được dịch là urethroscopy nhưng từ “urethroscopy” lại  có nghĩa là nội soi niệu đạo. Ở một cuốn từ điển hình ảnh “Word by word” từ pancreas (tuyến tụy) được dịch là lá lách (xin xem Học Tiếng Anh qua Hình Ảnh tr.71 Nxb Đà Nẵng). Khá thú vị có một từ ở tiếng Việt tần xuất sử dụng khá nhiều nhưng ở tiếng Anh trong lĩnh vực y học lại dịch sai ở 2 cuốn từ điển y học (xin xem từ “catchment area” trong từ điển Y Học Anh-Việt tr.162 Nxb Từ Điển Bách Khoa và từ điển Y Học Anh-Việt tr.160 Nxb Y Học).
2. TNYH tiếng Anh (có gốc Hy Lạp hoặc La tinh) thường bắt đầu bằng một gốc từ (root) + nguyên âm kết hợp (combining vowel) + hậu tố (suffix). Nguyên âm kết hợp này không có nghĩa và được dùng để nối một gốc từ với một hậu tố hoặc một gốc từ khác. Khi một nguyên âm được dùng để nối với một gốc từ thì sự kết hợp này được gọi là hình thái kết hợp (combining forms). Tuy nhiên, trong bài báo này, hình thái kết hợp được gọi chung là gốc từ vì lý do giản tiện.