The more I study, the more I know. The more I know, the more I forget. The more I forget, the less I know . So Why Study?

Thứ Bảy, 3 tháng 9, 2011

Y HỌC: CÁC CHUYÊN KHOA - BÁC SĨ CHUYÊN KHOA VÀ CÁC CHUYÊN GIA NGÀNH Y TẾ TƯƠNG CẬN MEDICINE: SPECIALITIES - SPECIALISTS - ALLIED HEALTH PROFESSIONALS


Y HỌC: CÁC CHUYÊN KHOA - BÁC SĨ CHUYÊN KHOA VÀ CÁC CHUYÊN GIA NGÀNH Y TẾ   TƯƠNG  CẬN
MEDICINE: SPECIALITIES - SPECIALISTS - ALLIED HEALTH PROFESSIONALS
                                                       Nguyễn phước vĩnh cố
1.    Y học (YH) và các chuyên khoa y học (CKYH):
Theo Rickards [4,15], từ “medicine” (y học) bắt nguồn trực tiếp ở từ La tinh medicina và có nghĩa nghệ thuật hay khoa học phục hồi và duy trì sức khỏe.Y học là một khoa học gắn liền với sức khỏe con người vì thế có rất nhiều CK (specialities). Việc làm quen với các CK này bằng tên gọi tiếng Anh thoạt đầu có vẽ rối rắm và phức tạp vì các thuật ngữ về các CK này vốn có nguồn gốc từ tiếng La tinh và Hy Lạp (xưa vốn phổ biến trong học thuật nay không còn sử dụng nữa). Những ai đã từng vào bệnh viện để khám sức khỏe, chăm sóc hay thăm viếng ai đó đều thấy khoa này, phòng nọ bên cạnh tiếng nước ta còn có một thứ tiếng nước ngoài xa lạ và khó hiểu (“it’s all Greek to me” ). Ví dụ, bạn cần thăm một sản phụ ở khoa Phụ sản, ta sẽ bắt gặp một dòng tiếng Anh “ Department of Gyn(a)ecology and obstetrics” ở bên dưới cụm từ “ Khoa Phụ sản”. Rồi cụm từ “ Department of Paediatrics” nếu ghé thăm “Khoa Nhi”, và cứ thế ta lạc vào một mê hồn trận “thuật ngữ”: Department of ... “an(a)esthesiology”..., “otorhinolaryngology”..., “orthopedics”..., “immunology”..., “gastroenterology”... v.v.

     2. Các hậu tố quan trọng về CKYH
Thực ra, để có kiến thức về các TN trên, trước hết ta chỉ cần biết được 4 hậu tố quan trọng nói về các CKYH (suffixes for medical specialities).
a-IATRY; b. -IATRICS; c. -ICS; d. -LOGY
- 3 hậu tố: -iatry; -iatrics; -ics chỉ các CKYH, và hậu tố còn lại -logy chỉ sự nghiên cứu .
 - Kế đến là các hậu tố nói về “bác sĩ chuyên khoa/người nghiên cứu” một lĩnh vực nào đó.
    3. Các hậu tố chỉ “bác sĩ chuyên khoa/người nghiên cứu   (bác sĩ CK)
 - 2 hậu tố: a. -IAN; b. -IST.
 -Theo quy luật chung, các TNCK tận cùng bằng 2 hậu tố: -IATRY; -LOGY thì danh từ dùng để gọi bác sĩ CK tận cùng bằng -IST. Ví dụ, “psychiatry” (khoa tâm thần) thì “psychiatrist” (bác sĩ CK tâm thần); “hematology” (huyết học) thì “hematologist” (bác sĩ huyết học)...vv.
  - Các TNCK tận cùng bằng 2 hậu tố: -IATRICS; -ICS thì danh từ dùng để gọi bác sĩ CK tận cùng bằng -IAN. Ví dụ, “p(a)ediatrics” (nhi khoa) thì “p(a)ediatrician”; “obstetrics”  (khoa sản) thì “obstetrician” (bác sĩ sản khoa) 
     4. Các hình thái kết hợp (gốc từ + nguyên âm kết hợp) liên quan đến CKYH
     Cuối cùng là các hình thái kết hợp (HTKH) liên quan đến CKYH. Cần lưu ý là có khá nhiều HTKH chỉ các bộ phận cơ thể như tim mạch, hô hấp, tiết niệu...vv. Sau đây là các HTKH được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái:
1. andr(o)- : nam/đàn ông; 2. allerg(o)- : liên quan đến dị ứng 3. an(a)esthesi(o)-(an: không; (a)esthesio: cảm giác : gây mê; 4. cardi(o)- : tim; 5. dermat(o)- : da; 6. endocrin(o)- : nội tiết; 7. epidemi(o)- : dịch tễ; 8. gastro- : dạ dày; 9. gastroenter(o)- : tiêu hóa; 10. gyn(a)ec(o)- : phụ nữ; 11. h(a)emat(o)- : huyết; 12. immun(o)- : miễn dịch; 13. nephr(o)- : thận; 14. neur(o)- : thần kinh; 15. onc(o)- : ung thư; 16. ondont(o)- : răng; 17. ophthalm(o)- : mắt; 18. ot(o)- : tai; 19. otorhinolaryng(o)- : tai, mũi, họng; 20. path(o)- : bệnh; 21. proct(o)- : hậu môn/trực tràng; 22. radi(o)- : X-quang; 23. rheumat(o)- : bệnh thấp; 24. toc(o): sinh con; 25. traumat(o)- : liên quan đến chấn thương; 26. ur(o)- : niệu.
Lưu ý: Các HTKH trên thường kết hợp với hậu tố -LOGY và -IST.
     5. Các HTKH và Các thuật ngữ  về các CKYH và các bác sĩ CK
- Các HTKH - Chuyên khoa YH - Bác sĩ CK
                  1. andr(o)-  andrology / andrologist
2. allerg(o)- allergology / allergologist, allergist
3. an(a)esthesi(o)- an(a)esthesiology / an(a)esthesiologist
4. cardi(o)- cardiology / cardiologist
5. dermat(o)- dermatology / dermatologist
6. endocrin(o)- endocrinology / endocrinologist
7. epidemi(o)- epidemiology / epidemiologist
8. gastr(o)- gastrology / gastrologist
9. gastroenter(o)- gastroenterology / gastroenterologist
10. gyn(a)ec(o)- gyn(a)ecology / gyn(a)ecologist
11. h(a)emat(o)- h(a)ematology / h(a)ematologist
12. immun(o)- immunology / immunologist
13. nephr(o)- nephrology / nephrologist
14 . neur(o)- neurology / neurologist
15. onc(o)- oncology / oncologist
16. ondont(o)- ondontology / ondontologist
17. ophthalm(o)- ophthalmology / ophthalmologist
18. ot(o)- otology / otologist
19. oto(rhino)larnyg(o)- oto(rhino)laryngology / oto(rhino)laryngologist
20. path(o)- pathology / pathologist
21. proct(o)- proctology / proctologist
22. radi(o)- radiology / radiologist
23. rheumat(o)- rheumatology / rheumatologist
24. toc(o)- tocology / tocologist
25. traumat(o)- traumatology / traumatologist
26. ur(o)- urology / urologist
     6.  Người hành nghề y tế
 Ngoài các bác sĩ CK nêu trên, ở Anh bác sĩ (doctors) còn được biết là người hành nghề y tế (medical practitioners) có bằng đại học y và phải đăng kí để hành nghề. Bác sĩ điều trị bệnh nhân còn được gọi là thầy thuốc lâm sàng (clinicians). Bác sĩ chăm sóc cơ bản cho bệnh nhân được gọi là bác sĩ đa khoa (general practitioner: GP), hay bác sĩ gia đình (family doctor). Hai chuyên khoa lớn của YH là nội khoa (internal medicine) và ngoại khoa (surgery) thì các bác sĩ hành nghề  nội khoa là ‘physicians’ và các bác sĩ hành nghề ngoại khoa là ‘surgeons’.

     7.  Chuyên gia ngành y tế tương cận (CGNYTTC: allied health professionals)
 Từ điển Bách Khoa Y Học Anh - Việt [5,102], định nghĩa CGNYTTC là người được đào tạo chuyên môn về một trong những ngành tương quan y tế như phòng thí nghiệm, phóng xạ, cấp cứu y tế, sinh lý trị liệu hay nghề nghiệp trị liệu. Đội ngũ CGNYTTC gồm: 1. chuyên gia vật lý trị liệu (physiotherapists); 2. chuyên gia liệu pháp lao động (occupational therapists); 3. người làm công tác xã hội (social workers); 4. chuyên gia chân học (chiropodists or podiatrists); 5. kỹ thuật viên (technicians) như kỹ thuật viên X-quang (X-ray technicians), nhân viên cứu thương (ambulance technicians); 6. chuyên viên phục hình (prosthetists); 7. chuyên viên chỉnh hình (orthotists); 8. kỹ thuật viên kính mắt (opticians).
           TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.    Fisher & Hutzell (1999), Thuật Ngữ Y Học căn bản (BS Đặng Tuấn Anh dịch), NXB Y Học.
2.    Funk & Lewis (1971), 30 Days to a More Powerful Vocabulary, NXB Pocket Books.
3.    Glendinning & Howard, (2009), Professional English in Use (Medicine), NXB Đồng Nai.
4.    Rickards (2005), Tự học để hiểu Thuật Ngữ Y Học Tiếng Anh (Trần văn Tiềm biên dịch), NXB Tổng Hợp Thành phố HCM.
5.    Từ Điển Bách Khoa Y học Anh-Việt, NXB Y Học (2007).



Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG Y HỌC TIẾNG ANH: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÌNH THÁI TỪ VÀ TÍNH KẾT HỢP TỪ


PHÁT TRIỂN TỪ VỰNG Y HỌC TIẾNG ANH: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH HÌNH THÁI TỪ VÀ TÍNH KẾT HỢP TỪ
MEDICAL ENGLISH VOCABULARY  DEVELOPMENT: MORPHOLOGICAL ANALYSIS AND COLLOCATION

Nguyễn Phước Vĩnh Cố
Trường Đại Học Ngoại Ngữ, Đại Học Đà Nẵng



1. Giới  thiệu
    Đặc trưng quan trọng nhất của mỗi lĩnh vực khoa học (KH) và kỹ thuật (KT) là hệ thuật ngữ. Mỗi  lĩnh vực KH và KT khác nhau chủ yếu ở từ vựng của nó. Đặc điểm chính của thuật ngữ y học (TNYH) tiếng Anh  là thuật ngữ thường có  nguồn gốc từ tiếng Hy lạp/La tinh. Không lạ gì khi người ta hỏi nghĩa của những thuật ngữ như “oophoropathy”, ‘salpingitis”,... thì thường nhận được câu trả lời “It’s all Greek to me”. Chabner [2] nhận xét rằng học TNYH cũng tương tự như học một “ngôn ngữ mới” ( Studying medical terminology is very similar to learning a new language). Rickards [8] thì cho rằng bất cứ ai tình cờ gặp lần đầu  những TNYH chắc phải “hết sức lúng túng”. “Bí hiểm”, “phức tạp” là những từ thường được dùng để mô tả ngôn ngữ y học tiếng Anh. Tuy nhiên, có  nhiều từ ta dùng chúng hằng ngày mà không biết rằng các từ đó là TNYH. Các từ như “diarrhea”, “appendicitis”, “influenza”, “tuberculosis”, “pneumonia”...v.v đã trở thành ngôn ngữ hằng ngày và cũng chẵng xa lạ gì với người học tiếng Anh lắm. Bên cạnh đó lại có quá nhiều từ có vẻ  lạ và phức tạp như “ophthalmology”, “orthopedics”, “gastroenterology”, “cholecystorrhaphy”, “splanchnoscopy”, “dysmenorrhoea”...nhưng các thuật ngữ (TN) này điều có nghĩa một khi ta biết cách phân chúng thành những phần nhỏ, có nghĩa và đặc biệt cần quen thuộc với mỗi thành phần khác nhau của chúng.
2. Phân tích hình thái từ
   Phân tích hình thái từ (còn gọi là cấu trúc) là tiến trình chia một từ phức thành các hình vị cấu  thành (các thành phần có nghĩa của từ). Ví dụ: từ “cardiologist” gồm hai thành phần có nghĩa, gốc từ “cardi” (tim) và hậu tố -ologist (người chuyên về một lĩnh vực nghiên cứu). Vậy từ “cardiologist” là bác sỹ tim mạch.
 3. Các thành phần của một thuật ngữ y học
   Để phân tích một TNYH, ta cần hiểu 3 thành phần chính để tạo thành một TNYH: tiền tố (prefixes), gốc từ (roots) và hậu tố (suffixes). Ba thành phần này được Chabner [2] mô tả một cách sinh động như sau: “TNYH  giống như trò chơi chắp hình cá nhân. Chúng được tạo thành từ những mảnh nhỏ (tiền tố, hình thái kết hợp (gốc từ + nguyên âm), và hậu tố để tạo ra một từ  duy nhất, nhưng các mảnh nhỏ đó cũng được dùng trong nhiều kết hợp khác nhau ở những từ khác”. Nhận xét này là cơ sở cho chúng tôi sử dụng phương pháp “phân tích hình thái (của từ)” như một công cụ hữu ích để hiểu các TNYH và phát triển từ vựng YH. Trước hết, chúng ta cần làm quen với các định nghĩa về các thành phần của một TNYH.
3.1 Gốc từ: là bộ phận chính/nền móng của TNYH. Các TNYH đều có một/hai gốc từ trở lên.
    Các ví dụ về gốc từ TNYH: 1. Cardi- (tim) 2. Gastr- (dạ  dày) 3. Enter- (ruột non) 4. Nephr- (thận).
3.2 Nguyên âm kết hợp (combining vowel): thường là (o) và được dùng để nối gốc từ với hậu tố/gốc từ này với gốc từ khác. Khi một nguyên âm được nối với gốc từ thì việc kết hợp  này được gọi là hình thái kết hợp.
   Các ví dụ về hình thái kết hợp: 1. Cardi + o = cardio 2. Gastr + o = gastro 3. Enter + o = entero 4. Nephr + o = nephro.
3.3 Hậu tố: là âm/từ thêm vào sau gốc từ làm thay đổi nghĩa của gốc từ. Các TNYH đều có một hậu tố.
   Các ví dụ về hậu tố TNYH: 1. -logy (nghiên cứu) 2. -itis (viêm) 3. -pathy (bệnh) 4. -scope (ống soi).
3.4 Tiền tố: là âm/từ thêm trước gốc từ. Không phải TNYH nào cũng có tiền tố nhưng
nếu có, tiền tố có thể ảnh hưởng quan trọng đến nghĩa của gốc từ.
   Các ví dụ về tiền tố TNYH: 1. peri- (quanh) 2. endo- (trong) 3. epi- (trên) 4. poly- (nhiều).
    Các thành phần trên (các mảnh nhỏ) khi ghép lại với nhau và ... Ta có một TNYH!
      Các ví dụ về các thành phần khi được ghép lại với nhau:
           - Cardi + o + logy = cardiology (tim học)
           - Gastr + o + scope = gastroscope (ống soi dạ dày)
           - Enter +(o) + itis   = enteritis (viêm ruột)
           - Peri + cardi +(o)  + itis = pericarditis (viêm ngoại tâm mạc)
           - Endo + cardi  +(o)  + itis = endocarditis (viêm nội tâm mạc).
Lưu ý : việc phân tích các thành phần một TNYH nói trên là trường hợp nói về các TNYH phái sinh (thuật ngữ chỉ có một từ). Các từ phức (từ gồm nhiều từ) thường là các TNYH phái sinh nói trên kết hợp với một/nhiều từ khác để tạo thành một từ phức như: cerebral haemorrhage, intravenous urogram, pelvic ultrasonography...vv. Các TN haemorrhage (xuất huyết), urogram (hình chụp X quang niệu ), ultrasonography (phép chụp siêu âm) đi với các tính từ cerebral (thuộc não), intravenous (qua tĩnh mạch), pelvic (thuộc xương chậu).Các tính từ này được cấu thành bởi các gốc từ và các hậu tố tính từ như: -ac; -al; -ar; -ary; -ic; -ical; -ile; -ous...vv. Vài ví dụ về các từ phức trong TNYH như chronic gastroesophageal reflux (trào ngược dạ dày-thực quản mạn tính), chronic obstructive pulmonary disease (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính)...vv.
4. Y học (YH) và các chuyên khoa (CK) của nó: phân tích hình thái và tính kết hợp
4.1 Phương pháp phân tích hình thái (morphological analysis)
   YH có hai ngành chính là nội khoa và ngoại khoa và một số các CK (specialities) khác. Một điều khá thú vị là từ nội khoa (internal medicine) có nguồn gốc từ từ Latinh medicina và ngoại khoa (surgery) từ các từ Hy Lạp cheir nghĩa là bàn tay và ergon là công việc nhưng lại rất quen thuộc với người học tiếng Anh còn lại các CK khác thì rất lạ lẫm nếu không nói là không có sẵn trong kho từ vựng của chúng ta. Dù bạn là sinh viên y khoa hay là sinh viên ngoại ngữ, bạn có gặp khó khăn khi hiểu các từ sau đây không: haematology, anesthesiology, geriatrics, tocology, endocrinology...Đó là chưa nói đến khi gặp một số TNYH tiếng Việt đại loại như khoa tim mạch, khoa huyết học-ung thư, khoa ngoại lồng ngực, khoa ngoại hậu môn-trực tràng...mà bạn muốn tìm từ tương đương ở tiếng Anh. Tuy nhiên những từ như trên lại không khó lắm để nhận diện nếu ta sử dụng phương pháp phân tích hình thái. Dù YH chia ra rất nhiều CK nhưng trước hết cần phải có kiến thức để biết rằng chỉ có 4 hậu tố kết hợp với một số hình thái kết hợp. 4 hậu tố này là: 1. -logy . 2. -iatry. 3. -iatrics . 4. -ics. Trong số 4 hậu tố này, có một chuyên khoa mang hậu tố -iatry (psychiatry : tâm thần học), hai CK mang hậu tố -iatrics (pediatrics : nhi khoa, geriatrics : lão khoa), hai CK mang hậu tố -ics (obstetrics: sản khoa, orthopedics: khoa chỉnh hình) và số còn lại (chừng 20 CK) mang hậu tố -logy. Hơn nữa, phân tích từ vựng (nắm được thành phần của từ: word parts) không những chỉ cho bạn công cụ hiểu nghĩa của các TNYH trông rất phức tạp mà còn làm phong phú vốn từ vựng của bạn. Cần lưu ý tên các CK tận cùng bằng-ology thì bác sĩ CK đó tận cùng bằng -ologist. Ví dụ urology (khoa niệu) thì bác sĩ của chuyên khoa này sẽ là urologist (bác sĩ niệu khoa), radiology (X- quang) bác sĩ sẽ là radiologist (bác sĩ X-quang), còn tên CK tận cùng bằng -ics thì bác sĩ CK đó tận cùng bằng-ician. Ví dụ,  CK obstetrics (sản khoa) thì bác sĩ là obstetrician(bác sĩ sản khoa), pediatrics (nhi khoa) là pediatrician (bác sĩ nhi khoa).
4.2 Tính kết hợp từ
   Theo McCarthy và O’Dell [5], tính kết hợp từ là sự kết hợp tự nhiên của các từ thường đi cùng nhau. Ví dụ, động từ do đi với homeworkmake thì đi với mistakes. Trong TNYH, ngoài một số từ phái sinh được phân tích theo hình thái từ nói trên thì các từ phức  lại liên quan đến tính kết hợp từ (collocation). Ví dụ, thuật ngữ arthritis (viêm khớp) có thể được phân tích thành: hậu tố -itis (viêm), gốc từ arthr- (khớp) và được hiểu là viêm khớp nhưng trong từ phức rheumatoid arthritis (viêm khớp dạng thấp) gồm từ arthritis kết hợp với tính từ rheumanoid.  Hai ngành chính trong YH là nội khoa và ngoại khoa dù cũng có nguồn gốc từ tiếng Latinh và Hy Lạp lại không mang 4 hậu tố nói trên. Từ nội khoa trong tiếng Anh gồm một tính từ internal và một danh từ medicine và một số chuyên khoa khác như YH cổ truyền, YH dự phòng, hạt nhân cũng mượn mô hình kết hợp như trên. Ta sẽ bắt gặp các tính từ như: traditional/conventional/orthodox/alternative kết hợp với medicine cho ra từ YH cổ truyền, preventive/preventative với medicine, YH dự phòng, và nuclear với medicine, YH hạt nhân. Trái lại từ ngoại khoa chỉ có một từ surgery thay cho từ tiếng Anh cổ chirurgery nhưng khi nói các chuyên khoa khác liên quan đến giải phẫu như ngoại lồng ngực, thì chúng cũng mượn mô hình kết hợp nói trên. Ta có thoracic kết hợp với surgery thành thoracic surgery (ngoại lồng ngực). Các tính từ thường kết hợp với surgerycosmetic/plastic, orthopedic, neurological, keyhole.
5. Sự điều trị/chữa bệnh trong YH: phương pháp phân tích hình thái và tính kết hợp
   Thuật ngữ therapy (điều trị) vốn bắt nguồn từ tiếng Hy lạp là therapeuein có nghĩa là chữa khỏi bệnh. Trong TNYH, nó đóng vai trò hậu tố trong nhiều từ như physiotherapy (lý liệu pháp), hydrotherapy (thủy liệu pháp), chemotherapy (hóa liệu pháp/phép trị bệnh bằng thuốc), radiotherapy (xạ trị), electrotherapy (điện liệu pháp), psychotherapy (liệu pháp tâm lý) nhưng ở các từ sau, nó xuất hiện như một danh từ kết hợp với một số từ khác như occupational therapy (phép chữa bằng lao động), speech therapy (liệu pháp những tật về nói), group therapy (liệu pháp nhóm), cognitive-behaviour therapy (liệu pháp hành vi-nhận thức).
6. Sự khám bệnh và chẩn đoán (bằng công cụ): hậu tố -scopy (khám nghiệm, soi), -scope (dụng cụ dùng để soi) và -gram (bản ghi, hình ảnh), -graph (dụng cụ dùng để ghi), -graphy (phép ghi, kỹ thuật dùng để ghi)
   Bạn có bao giờ nghe/bắt gặp từ endoscopy (nội soi: chỉ một phương thức khám/xem xét các bộ phận cơ thể mà không thể thấy được từ bên ngoài) và dụng cụ dùng để quan sát bên trong của cơ thể là endoscope (đèn/thiết bị nội soi). Tùy theo việc khám/xem xét bộ phận cơ thể nào, mà ta có hậu tố -scopy/-scope kết hợp với gốc từ bộ phận cơ thể đó. Ví dụ, auriscopy/auriscope (soi tai/cái soi tai), gastroscopy/gastroscope (soi dạ dày/cái soi dạ dày), bronchoscopy/bronchoscope (soi phế quản/cái soi phế quản), laryngoscopy/ laryngoscope (soi thanh quản/cái soi thanh quản) tracheoscopy/tracheoscope (soi khí quản/cái soi khí quản)... Một từ viết tắt ta thường gặp trong bệnh án của bệnh nhân tim là ECG (điện tâm đồ). Những con chữ  này viết tắt từ TN electrocardiogram, gồm 2 gốc từ: electro- (điện) và cardio- (tim) và hậu tố -gram (bản ghi/hình ảnh). Ta sẽ bắt gặp các TN như thế trong nhiều văn bản như electroencephalogram (EEG): điện não đồ. Thiết bị ghi những hoạt động này gọi là electroencephalograph (điện não ký) và electroencephalography là phép ghi điện não
7. Hệ hô hấp (respiratory system): các gốc từ hệ hô hấp và hậu tố chỉ bệnh -itis (viêm)
   Hệ hô hấp có 7 gốc từ: 1. aden- (sùi vòm họng) 2. bronch- (phế quản) 3. laryng- (thanh quản) 4. trache- (khí quản) 5. pneum-/pneumon- (phổi: gốc từ Hy Lạp) 6. pulmo- (phổi: gốc từ Latinh) 7. rhin- (mũi). Các gốc từ này khi được thêm vào hậu tố -itis sẽ cho ta một số từ chỉ bệnh như : 1. adenoiditis (viêm V.A) 2. bronchitis (viêm phế quản) 3. laryngitis (thanh quản) 4. tracheitis (viêm khí quản) 5. pneumonitis (viêm thành phế nan) 6. pulmonitis (viêm phổi) 7. rhinitis (viêm mũi).
8. Hệ tiêu hóa (digestive system): các gốc từ hệ tiêu hóa và một số hậu tố (-gram, -graph, -graphy, -scopy/-scope, và -itis) được dùng để gắn  vào các gốc từ hệ tiêu hóa để chỉ sự khám bệnh, chẩn đoán và tên bệnh trong hệ tiêu hóa.
  Hệ tiêu hóa có 9 gốc từ: 1. cholecyst- (túi mật) 2. pharyng- (hầu, họng) 3. enter- (ruột non) 4. splanchn- (nội tạng) 5. hepat- (gan) 6. col(on)- (kết tràng) 7. gastr- (dạ dày) 8. ile- (hồi tràng) 9. proct- [Hy lạp]/ano- [Latinh]: (hậu môn).
     Sau đây là một số từ tiêu biểu liên quan đến  sự khám bệnh, chẩn đoán và tên bệnh trong hệ tiêu hóa. 1. cholecystogram (hình chụp X quang túi mật) – cholecystography (phép chụp X quang túi mật) – cholecystitis (viêm túi mật) 2. pharyngography (phép chụp X quang họng) – pharyngoscopy (khám họng) – pharyngoscope (đèn khám họng) – pharyngitis (viêm họng) 3. enterogram (biểu đồ nhu động ruột non) – enterography (phép chụp ảnh nhu động ruột non) - enteroscope (thiết bị nội soi ruột) – enteritis (viêm ruột non) 4. splanchnography (sự mô tả nội tạng) – splanchnoscopy (sự soi nội tạng) 5. hepatogram (mạch gan đồ) –  hepatography (phép chụp X quang gan) – hepatoscopy (soi gan) – hepatitis (viêm gan) 6. colonoscopy (soi ruột kết) – colonoscope (dụng cụ soi ruột kết) – colonitis (viêm ruột kết) 7. gastroscopy (soi dạ dày) – gastroscope (dụng cụ nội soi dạ dày) – gastritis (viêm dạ dày) 8. ileitis (viêm hồi tràng) 9. proctoscopy (nội soi hậu môn, trực tràng) – proctoscope (banh nội soi trực tràng).
9. Các hậu tố được dùng để xây dựng các TNYH chỉ bệnh, rối loạn và triệu chứng.
     Một số TNYH chỉ bệnh, rối loạn, và triệu chứng được xây dựng bằng cách gắn hậu tố vào gốc từ. Các hậu tố quan trọng nhất là: 1. -itis (viêm). Ví dụ: arthritis (viêm khớp) 2.-asis,-esis,-iasis,-osis (bệnh/triệu chứng). Ví dụ: arthrosis (bệnh khớp). Các hậu tố khác thường gặp là: 1. -agra (mắc, bị, nhiễm). Ví dụ: ophthalmagra (chứng đau mắt đột ngột) 2. -alg(ia),-odyn(ia) (đau, sự khó ở). Ví dụ: arthrialgia (đau khớp), odontodynia (đau răng). 3. -oma (sưng, phồng/u, bướu). Ví dụ: odontoma (u răng). 4. -pathy (bệnh). Ví dụ: gastropathy (bệnh dạ dày). 5. -phobia (sợ). Ví dụ: hemophobia (chứng sợ máu). 6. -plegia/-plexy. (đột quỵ/liệt). Ví dụ: cephaloplegia (liệt cơ đầu mặt). 7. -rrhoea (chảy, tiết dịch). Ví dụ: rhinorrhoea (chảy mũi nước). 8. -rrhagia: (chảy máu, xuất huyết)). Ví dụ: encephalorrhagia (xuất huyết não).
10. Các hậu tố được dùng để xây dựng các TNYH chỉ các phương thức phẫu thuật
10.1 Các hậu tố chỉ phương thức phẫu thuật thông thường.
    Các hậu tố phổ biến nhất là: 1. -tomy (rạch, mở, cắt). 2. -ectomy (cắt bỏ, lấy đi). 3. -stomy (mở thông, dẫn lưu). 4. -pexy (cố định). 5. -rrhaphy (khâu)   . Những hậu tố này có thể thêm vào bất kỳ gốc từ chỉ bộ phận cơ thể nào mà trên đó các phương thức phẫu thuật được thực hiện. Ví dụ, lấy 2 gốc từ thuộc hệ tiêu hóa là “col(on)- (ruột kết) và “cholecyst-” (túi mật) khi thêm vào 5 hậu tố chỉ các phương thức phẫu thuật nói trên, ta sẽ có các TNYH chỉ phương thức phẫu thuật “ruột kết” và “túi mật” theo thứ tự của các hậu tố nói trên: 1. colotomy (rạch mở ruột kết qua thành bụng)/cholecystotomy (thủ thuật (t/t) rạch túi mật qua đường mở thành bụng). 2. colectomy  ((t/t) cắt bỏ ruột kết)/cholecystectomy ((t/t) cắt bỏ túi mật). 3. colostomy (mở thông ruột kết)/cholecystostomy (mở thông túi mật). 4. colopexy ((t/t) cố định ruột kết)/cholecystopexy ((t/t) cố định túi mật). 5. colorrhaphy (khâu ruột kết)/cholecystorrhaphy ((t/t) khâu túi mật).
11. Các tiền tố (prefixes) được dùng để xây dựng các TNYH chỉ bệnh, rối loạn, và triệu chứng.
    Một số bệnh, rối loạn và triệu chứng được đặt tên bằng cách dùng các gốc từ và tiền tố. Các tiền tố thường được sắp xếp theo các chủ điểm như: a. số lượng b. con số c. kích thước và hình dạng d. màu sắc e. các chất...vv. Các tiền tố chỉ số lượng và một số tiền tố khác  như: a. poly- (nhiều), ví dụ: polyuria (chứng đái nhiều), b. olig- (ít, thiếu), ví dụ: oliguria (chứng đái ít), c. a-/an- (không có, thiếu, mất), ví dụ: anuria (vô niệu), d. pu- (mủ), ví dụ: pyuria (chứng đái mủ), e. melan- (đen), ví dụ: melanuria (nước tiểu đen).... Sau đây là một số tiền tố được dùng để xây dựng TNYH chỉ bệnh, triệu chứng...vv.  Dys-/mal- (xấu, bất thường), pseud- (giả), atel- (bất toàn), py- (mủ), tox- (chất độc), eu- (tốt), normol- (thường)...vv.
12. Kết luận
    Việc phát triển từ vựng YH bằng phương pháp phân tích hình thái từ (phân tích từ thành gốc từ và các thành phần như tiền tố, hậu tố) và tính kết hợp từ (một/nhiều tính từ/danh từ +danh từ) thật sự quan trọng và có ý nghĩa trong việc thụ đắc ngôn ngữ và sử dụng thuật ngữ YH; hơn nữa, việc nắm vững TNYH là một phần cơ bản nhưng rất quan trọng là vì nó sẽ khiến cho từ vựng rõ nghĩa hơn (về mặt ngữ nghĩa) đối với người sử dụng ngôn ngữ vốn phải nắm bắt các tiến bộ mới nhất của YH trong các tài liệu, sách báo, bài báo viết bằng tiếng Anh nhằm phục vụ hiệu quả nghề nghiệp người của mình.
 Tài liệu tham khảo
  1. Bellomo, T (2009), Morphological Analysis and Vocabulary Development: Critical Criteria.
2.      Chabner, D (1996), The Language of Medicine, New York, W.B Saunders Company                                                                                                                                             3.   Fishe, J & Hutzell N, (1999),  Thuật ngữ Y học căn bản, (BS Đặng Tuấn Anh dịch) NXB Y Học    4.Glendinning, E.H & Howard, R (2009), Professional English in Use - Medicine, NXB Đồng nai.
  1. McCarthy, M & O’Dell, F, (2008), English Collocations in Use, NXB Đồng Nai.
      6. Phạm Ngọc Trí (2004), Từ điển Y Học Anh-Việt, NXB Y học.
      7.  PohL, A (2009), Test your Professional English Medical, NXB Đồng Nai.
      8. Rickards, R (2005), Understanding Medical Terms (Trần Văn Tiềm biên dịch), NXB   Tổng Hợp t.p Hồ Chí Minh.
      9. Oxford  Collocations Dictionary (2005), Oxford University Press.

Thứ Sáu, 29 tháng 7, 2011

CẤU TRÚC THÔNG TIN VÀ CẤU TRÚC ĐỀ THUYẾT TRONG DỊCH THUẬT

CẤU TRÚC THÔNG TIN VÀ CẤU TRÚC ĐỀ THUYẾT TRONG DỊCH THUẬT
INFORMATION STRUCTURE AND THEMATIC STRUCTURE IN TRANSLATION
Nguyễn Phước Vĩnh Cố
Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Việc hiểu biết các khía cạnh dòng thông tin biểu hiện dưới dạng đề/thuyết, tin cũ/tin mới hoặc tính năng động giao tiếp là quan trọng trong dich thuật và giảng dạy ngôn ngữ. Vì vậy, bài báo trình bày tóm tắt 2 cách tiếp cận về dòng thông tin (đường hướng Halliday và quan điểm của Trường phái Praha) nhằm cung cấp cho người dịch nói riêng và sinh viên ngoại ngữ nói chung sự hiểu biết cơ bản với ít nhất là 1 trong 2 mô hình nói trên. Bài báo cũng thảo luận một số chiến lược do các nhà ngôn ngữ học gợi ý nhằm giải quyết “độ căng” giữa chức năng cú pháp và chức năng thông tin trong dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ.
ABSTRACT
An awareness of aspects of information flow represented in terms of theme/rheme, given/new or communicative dynamism is important in translation and language teaching. Therefore, the paper briefly presents the two approaches to information flow (the Hallidayan approach and the Prague School one) to provide translators in particular and students of foreign languages in general with basic familiarity with at least one of the major models. The paper also discusses some strategies suggested by a number of linguists for resolving the tension between syntactic and communicative functions in translation and language teaching.
1. Giới thiệu
Việc nghiên cứu cấu trúc thông tin (CTTT) và cấu trúc đề-thuyết (CTĐT) trong văn bản đã được nhiều nhà ngôn ngữ khác nhau trên thế giới đề xướng và bàn luận nhiều (Firbas, dẫn theo Mona Baker [1], Halliday [6], Brown và Yule [2] ; Jacobs [9] Lý Toàn Thắng [13] Cao Xuân Hạo [4] …v.v ) Trong số những nhà ngôn ngữ này, khi nói đến CTTT và CTĐT, người ta thường nhắc đến Halliday và Firbas. Halliday luôn khẳng định ít ra là ở tiếng Anh sự phân biệt đề-thuyết được nhận biết qua trật tự chuổi của các thành phần mệnh đề. Phần “đề” đứng trước; phần “thuyết” đứng sau. Firbas thuộc trường phái Praha, là một trong những người đi tiên phong trong việc nghiên cứu sự tương tác giữa chức năng cú pháp và chức năng thông tin (tin cũ – tin mới, tính năng động giao tiếp…) Những vấn đề này cũng được một số nhà lý thuyết dịch nói đến nhưng khá sơ lược (Peter Newmark [15], Hatim và Mason [8] , Mildred Larson [11] … Đáng chú ý là Mona Baker [1] đã dành một chương để miêu tả, phân tích hai cấu trúc này rất chi tiết và rõ ràng. Tuy nhiên, CTTT và CTĐT xét từ góc độ dịch thuật lại ít được chú ý ở tiếng Việt. Chính vì vậy bài báo sẽ thảo luận hai quan điểm nói trên dựa phần lớn vào những nghiên cứu của Mona Baker và đặc biệt chú trọng đến việc ứng dụng của chúng trong dịch Anh – Việt (A-V) và Việt – Anh (V-A). Phần cuối bài báo giới thiệu một số chiến lược do các nhà ngôn ngữ gợi ý nhằm giải quyết “độ căng” giữa chức năng cú pháp và chức năng thông tin trong dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ.
2. Quan niệm của các nhà ngôn ngữ về CTTT
Theo Brown và Yule [2,153] CTTT là đơn vị nhỏ nhất của kết cấu diễn ngôn: những đơn vị nhỏ có tính cục bộ ở cấp độ cụm từ hay mệnh đề. Từ điển “Longman” về giảng dạy ngôn ngữ và ngôn ngữ học ứng dụng có cái nhìn bao quát hơn về CTTT: “ việc sử dụng trật tự từ, ngữ điệu, trọng âm và các biện pháp khác để chỉ ra thông tin biểu thị bởi một câu phải được hiểu như thế nào” [19,180]. Halliday [7,38] cho rằng : trong mọi ngôn ngữ mệnh đề đều có đặc tính của một thông tin. Với quan niệm này, Halliday thừa nhận mệnh đề có chức năng thông tin chứ không phải một chuỗi thành phần mang tính chất ngữ pháp và từ vựng. Ngoài tổ chức của một mệnh đề dưới dạng các thành phần như chủ ngữ – tân ngữ và tác thể – đối thể, một mệnh đề còn là một tổ chức tương tác phản ánh mối quan hệ giữa người nói và người nghe. Người ta có thể phân tích mệnh đề thông tin theo hai loại cấu trúc: a) cấu trúc đề thuyết (thematic structure), b) cấu trúc thông tin (information structure). Nhìn chung có hai đường hướng chính. Đường hướng Halliday phân đoạn đề thuyết tách rời khỏi tin cũ -tin mới. Những nhà ngôn ngữ theo trường phái Praha lại phân đoạn đề-thuyết gắn liền với tin cũ – tin mới trong CTTT.
3. Đường hướng theo Halliday về dòng thông tin
3.1. Cấu trúc đề-thuyết: đề ngữ và thuyết ngữ
Theo quan điểm này [7,38], [14,20], một mệnh đề thông tin có hai thành phần: phần đầu được gọi là “đề”, có hai chức năng: a) làm điểm định vị bằng cách nối với chuổi diễn ngôn phía trước để duy trì điểm nhìn mạch lạc, b) làm điểm khởi đầu bằng cách nối kết và góp phần phát triển các chuổi tiếp theo. Phần thứ hai là “thuyết”: là thành phần quan trọng nhất trong mệnh đề thông tin vì nó trình bày chính thông tin mà người nói muốn chuyển tới người nghe. Xin xem ví dụ:
I can’t stand the noise.
Tôi– không thể chịu đựng tiếng ồn đó.
Đề –thuyết
3.2. Cấu trúc đề-thuyết: chuỗi đánh dấu và không đánh dấu
Sự lựa chọn đề liên quan đến việc chọn một thành phần mệnh đề làm “đề”. Các thành phần của một mệnh đề chính là: chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, bổ ngữ và trạng ngữ. Theo mô hình của Halliday [7,39,45,49] sự lựa chọn đề được biểu thị bằng cách đặt một trong những thành phần nói trên ở vị trí đầu của mệnh đề. Mona Baker [1,129] cho rằng sự lựa chọn đề luôn có nghĩa vì nó cho thấy sự khởi đầu của người nói hay người viết. Một số lựa chọn có nghĩa hơn các lựa chọn khác vì chúng được đánh dấu hơn. Nghĩa, sự
lựa chọn, tính đánh dấu là các khái niệm có tính tương liên, lấy “tính từ” và “trạng ngữ” trong tiếng Anh làm ví dụ. Nếu tính từ đặt trước danh từ trong tiếng Anh thì điều này có nghĩa là nó đứng ở vị trí ít có nghĩa vì đó không phải là kết quả của sự lựa chọn nhưng việc đặt một trạng ngữ chỉ nơi chốn, thời gian ở đầu mệnh đề lại mang nghĩa nhiều hơn ở giữa hay cuối mệnh đề vì đấy là kết quả của sự lựa chọn. Vậy, “đề được đánh dấu” là gì? Theo Halliday [dẫn the Carl James 10, 110], tính đánh dấu là một khái niệm được các nhà ngôn ngữ dùng để ám chỉ sự lệch chuẩn (markedness is a concept used by linguists to refer to departure from the norm) Ví dụ, trong tiếng Anh có thể đặt một bổ ngữ hay vị ngữ ở vị trí đầu trong một mệnh đề (nhưng không phổ biến) như: “Beautiful were her eyes”,“I knew he was going to cause trouble and cause trouble he did”. Một bổ ngữ/ vị ngữ ở vị trí này được đánh dấu cao và được lựa chọn cụ thể để làm nổi bật một thành phần riêng biệt làm chủ đề của mệnh đề hay điểm xuất phát, hơn nữa đây là sự lựa chọn có nghĩa của người nói/ người viết trong quá trình giao tiếp vì vậy việc hiểu biết cấu trúc đánh dấu và không đánh dấu thật sự rất cần thiết đối với người dịch. Các nhà ngôn ngữ theo Halliday nhận dạng ba đề được đánh dấu trong tiếng Anh. a) đề ở vị trí đầu câu b) đề vị ngữ c) đề nhận dạng.
a. Đề ở vị trí đầu câu (fronted theme)
Theo Greenbaum và Quirk [6, 407], vị trí đầu câu (fronting) đòi hỏi có một đề được đánh dấu bằng cách chuyển một thành phần mệnh đề lên vị trí đầu mà thành phần này bất thường ở vị trí đó, lấy một cấu trúc không được đánh dấu trong tiếng Anh làm ví dụ. “The book received a great deal of publicity in China [1,132] và từ câu này ta bắt đầu từ một cấu trúc ít đánh dấu nhất (least marked) đến một cấu trúc được đánh dấu nhiều nhất (most marked). Các thành phần đề đầu câu được in đậm.
a.1 Vị trí đầu câu của trạng ngữ chỉ thời gian hoặc nơi chốn
- In China the book received a great deal of publicity.
Đây là cấu trúc được đánh dấu nhưng không được đánh dấu cao vì trạng ngữ vốn có vị trí linh hoạt trong tiếng Anh. Trong tiếng Việt cũng vậy, nhiều nhà ngôn ngữ cho rằng trạng ngữ có thể đứng ở ba vị trí khác nhau (đầu câu, giữa câu và cuối câu) nhưng vị trí phổ biến nhất là đầu câu. Vậy làm thế nào dịch đúng trạng ngữ được đánh dấu của tiếng Anh? Phan Ngọc [17, 84] cho rằng: “Trật tự trong một câu trung hòa tức là câu chỉ thông báo sự việc, không có thêm một ý định chủ quan nào của người nói, không có màu sắc tu từ sẽ được bố trí theo thứ tự: thời gian – vị trí, (chủ – vị – bổ ) công cụ. Ví dụ: “Hôm qua, ở Thanh hoá, dân quân ta đã bắn rơi hai máy bay địch bằng súng trường”. Theo Phan Ngọc, nếu muốn nêu bật thời gian/nơi chốn thì đưa chúng xuống sau bổ ngữ. Theo quan điểm này, cấu trúc được đánh dấu trên phải dịch là: Cuốn sách đã được quảng cáo rầm rộ tại Trung Quốc”. Vị trí đầu câu của trạng ngữ tiếng Anh cũng có thể biểu thị tính tương phản. Trong trường hợp này, nó sẽ được dịch “Ở Trung Quốc thì cuốn sách mới được quảng cáo rầm rộ”. Quan trọng hơn là việc đề hóa trạng ngữ chỉ nơi chốn/ thời gian cũng rất phổ biến ở một số kiểu văn bản trong tiếng Anh vì việc đề hóa này tạo ra phương pháp phát triển văn bản. Brown và Yule [2,132] nêu rõ rằng
truyện trinh thám thường đề hóa các trạng ngữ chỉ thời gian, còn sách quảng bá du lịch lại sử dụng một cách có hệ thống các trạng ngữ nơi chốn làm đề. Ta không mấy ngạc nhiên trước những đoạn trích từ một truyện trinh thám vốn thường đề hoá các trạng ngữ chỉ thời gian. Xin xem ví dụ:
- Late that afternoon she received a reply paid telegream …
- Then he went on…
- In the meantime she would be the better of professional aid
…  An  hour  later  a  pleasant-looking  middled-aged  woman  arrived  and  took
charge.
Nguồn: dẫn theo Brown và Yule trong “Discourse Analysis”, [2,131]
Và việc đề hóa trạng ngữ nơi chốn làm “đề” trong một cuốn sách quảng bá du
lịch. Xin xem ví dụ.
- On some islands, it is best if you…
- In Greece and Turkey, you are met at the airport …
- In all other places, we make bookings …
- In some centers, we have local agents …
Nguồn: dẫn theo Brown và Yule trong “Discourse Analysis”, [2,132]
Theo Hatim và Mason [8,222], những vấn đề vừa nêu liên quan đến công việc của những người nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa vì rõ ràng các xã hội khác nhau sử dụng các phương tiện khác nhau để cấu trúc diễn ngôn của mình.
a.2 Vị trí đầu câu của tân ngữ hoặc bổ ngữ
- Tân ngữ: A great deal of publicity the book received in China.
- Bổ ngữ: well -publicized the book was.
Vị trí đầu câu của tân ngữ và bổ ngữ được đánh dấu hơn vị trí đầu câu của trạng ngữ trong tiếng Anh vì tân ngữ và bổ ngữ nói chung đều có vị trí tương đối cố định. Tuy nhiên không giống như trạng ngữ, việc đặt một tân ngữ/bổ ngữ ở vị trí đầu câu không tạo ra phương pháp phát triển văn bản. Ở tiếng Anh, hiệu quả của việc đề hóa tân ngữ [1, 134] là tạo ra sự tương phản và nhấn mạnh thái độ của người nói với thông tin. Ví
dụ:
I think I get on with her very well but him I really cannot bear. [12,224] People like that I just can’t stand.[20,503]
Điều tương tự cũng xảy ra ở tiếng Việt.
Những cuộc vui ấy, chị còn nhớ rành rành. [5,338] Tiền thì chúng tôi không dám nhận. [13,120]
Ở tiếng Anh lẫn tiếng Việt , vị trí đầu câu của tân ngữ biểu thị cái đã biết. Tính chất đã biết của nó được thể hịên bằng: định ngữ, mệnh đề, các danh từ riêng, các đại từ nhânxung
                           Bảng 1. Vị trí đầu câu của tân ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt
Tiếng Anh Tiếng Việt
1. People like that I just can’t stand. 1. Ngôi nhà này, qua mới cất lại đó.
2. All the information which you need I am putting in the post today. 2. Cái giấy tôi đánh máy dở, loong toong có để bên bàn ấy không?
3.Mary I believe. 3. Cửu trùng đài đến nay không ai dựng nỗi.
4.Him I trust. 4. Anh ấy tôi đã ra sức chiều chuộng.
Khi dịch tân ngữ được đề hóa từ Anh sang Việt, cần lưu ý:
Trường hợp nhấn mạnh thái độ người nói, động từ thường có các từ ngữ phụ đi kèm: “ấy”, “được”, “phải” … ví dụ:
•      Làng tôi, anh biết rồi đấy.
•      Việc này tôi làm được.
•      Thù này tôi phải trả.
Trường hợp tương phản nên dùng từ “thì” vì về nguyên tắc sự tương phản ở tiếng Việt được tạo ra bằng cách “đánh dấu tân ngữ” chủ yếu bằng tiểu từ “thì” hoặc bằng ngữ điệu [13, 120]
Trường hợp bổ ngữ đứng đầu câu vẫn thấy ở tiếng Anh và tiếng Việt nhưng lại không phổ biến và cũng được nhấn mạnh hơn so với trật tự thông thường.
Tiếng Anh: Intelligent she may be but omniscient she is not.
Tiếng Việt: Thật vĩ đại cái trầm lặng đầy tin tưởng của những con người.
a.3 Vị trí đầu câu của vị ngữ
Vị ngữ: They promised to publicize the book in China , and publicize it they did. Trong tất cả lựa chọn đề ở tiếng Anh, đây là sự lựa chọn được đánh dấu nhiều
nhất. Ngoài việc đặt vị ngữ đầu câu, sự lựa chọn này liên quan đến việc sắp xếp lại các
thành phần mệnh đề và điều chỉnh hình thái nhóm động từ. Các ví dụ có vị ngữ đặt đầu câu có tần số xuất hiện khá thấp:
You hired me to protect you, Miss Porter, and protect you I shall. ( Cô thuê tôi bảo vệ cô, thưa cô Porter và tôi sẽ bảo vệ cô.)
“Trích từ phim hoạt hình “Tarzan 2” do hãng Walt Disney phát hành DVD (video)”
Việc dịch một cấu trúc có vị ngữ đặt đầu câu “protect you I shall” sang tiếng
Việt “tôi sẽ bảo vệ cô”. Theo chúng tôi, người dịch đã không giữ được sự nhấn mạnh đặc biệt được ở cấu trúc đánh dấu ở ngôn ngữ gốc. Tuy nhiên, thật khó cho người dịch sử dụng một thủ pháp có sẵn để giải quyết sự nhấn mạnh gắn liền với vị ngữ đặt đầu câu ở tiếng Anh. Tuy nhiên, theo chúng tôi điều có thể làm được là có thể dùng từ “nhất định”/ “chắc chắn” trước động từ bảo vệ (nếu hình thái động từ là tương lai). Nếu hình thái động từ ở tiếng Anh là quá khứ, ta có thể dùng từ “thực sự”/ “quả vậy” trước động từ. Việc làm này có thể khiến cho các câu dịch ở tiếng Việt sẽ tương tự như “and I shall certainly protect you” và “and they did in fact publicize it” ở tiếng Anh.
Ở tiếng Việt cũng có cấu trúc có chứa động từ đứng đầu câu nhưng thường có
động từ “là” / “có” nằm giữa động từ và chủ ngữ.
- Ra sân bay đón đoàn có các đồng chí.
- Đi đầu đoàn biểu tình là công nhân.
Cấu trúc có chứa động từ đứng đầu câu trong tiếng Việt (có thể dịch sang tiếng Anh bằng cấu trúc tương đương như : vị ngữ hóa (có thể là một động từ – ing/tính từ + be + chủ ngữ.
Bảng 2. Cu trúc có chứa động từ đứng đầu câu trong tiếng Việt và cấu trúc dịch tương đương tiếng Anh
Tiếng Việt
Tiếng Anh
Động từ + là/ có + chủ ngữ Predication + be + subject
1.Tham  gia  đàm  phán  về  phía  ViệtNam có X, Y, Z. 1.Taking part in the talks on the Vietnamese side were X, Y, Z.
2.  Hiện  diện  trong  buổi  họp  có  Thủtướng và toàn thể thành viên Quốc hội. 2.  Present  at  the  meeting  were  the  PrimeMinister and all members of the Parliament.
b. Đề vị ngữ (predicated theme)
Đề vị ngữ liên quan đến việc sử dụng “cấu trúc -it” (it – structure) còn gọi là cấu trúc chêm xen (cleft structure) để đặt một thành phần gần đầu mệnh đề. Xin xem các ví
dụ:
It was the book that received a great deal of publicity in China. It was a great deal of publicity that the book received in China. It was in China that the book received a great deal of publicity .
Đề vị ngữ là một cấu trúc đánh dấu cho phép người nói/người viết chọn một thành phần như là chủ ngữ vốn là một đề không được đánh dấu của câu tường thuật (declarative clause) tiếng Anh thành 1 đề được đánh dấu. Các cấu trúc đánh dấu nói trên có thể dịch sang tiếng Việt bằng cách dùng từ “chính”, từ chuyên đánh dấu phần thuật đề (thuyết ngữ) đi trước trong tiếng Việt. Cũng như các đề đánh dấu khác, đề vị ngữ thường hàm ý tương phản 1. “It was in China that …” thường gợi ý rằng ở Trung
Quốc thì cuốn sách mới được quảng cáo rầm rộ (nơi khác thì không). Trong trường hợp đó, câu dịch sẽ là “Chính ở Trung Quốc thì cuốn sách mới nhận được sự quảng cáo rầm rộ”               
c. Đề nhận dạng (identifying theme)
Đề nhận dạng cũng tương tự như đề vị ngữ. Thay vì sử dụng “cấu trúc – it” , đề nhận dạng đặt một thành phần ở vị trí đề, biến thành phần này thành một danh hoá (nominalization) dùng cấu trúc – Wh hay còn gọi là cấu trúc chêm xen giả (pseudo-cleft structure) như “What the book received in China was a great deal of publicity” (Điều cuốn sách nhận được tại Trung Quốc là sự quảng cáo rầm rộ). Một trong những chức năng quan trọng của 2 cấu trúc trên là báo hiệu thông tin và cả 2 đều đánh dấu nhưng khá phổ biến trong tiếng Anh vì chúng có thể cung cấp một chiến lược đề hoá nhằm khắc phục sự hạn chế của trật tự từ lại cho ta biết vị trí tin cũ – tin mới mà không phụ thuộc vào ngữ điệu. Tuy nhiên sự phân biệt là đề vị ngữ thành phần đề được xem là tin mới thì ở đề nhận dạng thành phần đề được xem là tin cũ. Dấu nhấn hay trọng âm cũng cung cấp một tín hiệu về vị trí thông tin trong tiếng Anh nói, vì lẽ đó đề vị ngữ và đề nhận dạng thường có khuynh hướng phổ biến trong văn viết hơn văn nói. Trái lại các hình thái tương đương với 2 cấu trúc này như “chính”, “cái mà”/”điều mà …là…” được dùng trong văn nói cũng như văn viết ở tiếng Việt, nơi trọng âm vốn thường không được xem là một phương thức cho biết vị trí thông tin hoặc nếu có cũng bị “lấn át” bởi thanh điệu.
3.3 Cấu trúc thông tin: tin cũ (given)-tin mới (new)
Đề và thuyết là hướng tới người nói (speaker-oriented) . Đề là cái người nói / viết chọn làm điểm xuất phát. Thuyết là cái người nói/ viết nói về đề. Trái lại, thông tin cũ -thông tin mới lại hướng về người nghe (hearer-oriented). Thông tin cũ là cái mà người nói/người viết cho là người nghe/người đọc đã biết. Thông tin mới là cái người nói/người viết cho là người nghe/ người đọc chưa biết. Cần lưu ý CTTT cũng như CTĐT là một đặc điểm thuộc ngữ cảnh chứ không phải hệ thống ngôn ngữ. Ta có thể quyết định thành phần nào là tin mới, thành phần nào là tin cũ, trong một ngữ cảnh tình huống/ngôn ngữ. Chẳng hạn, câu “Nam mở cửa”. Có thể dùng trả lời nhiều câu hỏi khác nhau và tương ứng sẽ có CTTT khác nhau.
- Ai mở cửa ? Nam mở cửa.
- Nam làm gì? Nam mở cửa.
- Nam mở gì ? Nam mở cửa.
- Chuyện gì vậy? (Thằng) Nam mở cửa. Phần in đậm là phần chứa thông tin mới . Nguồn: Ngôn ngữ số 7 năm 2000 [14]
Tuy nhiên trong văn viết trật tự phổ biến của CTTT là tin cũ đặt trước tin mới.
Ưu điểm dễ nhận thấy của cấu trúc này là “dễ hiểu” và “dễ gợi nhớ”. Nguyên tắc đặt tincũ trước tin mới cũng ảnh hưởng đến một nguyên tắc khác: nguyên tắc xem trọng phần cuối (end-weight). Nói một cách khác, cùng một nguyên tắc khiến cho người nói/người viết đặt tin cũ trước tin mới đồng thời khiến người nói/người viết đặt cấu trúc “dài hơn”, “nặng hơn” cuối mệnh đề như ở một ví dụ sau: Wuirt’s researches led to a new reaction which still bears his name [18,98] (Các nghiên cứu của Wuirt đã dẫn đến một phản ứng mới cho đến nay vẫn mang tên ông).
Có vẻ như có một nguyên tắc trong tiếng Việt tương tự như nguyên tắc xem trọng phần cuối. Theo nguyên tắc 2 này chủ ngữ thường được lược đi vốn rất phổ biến trong văn bản khoa học tiếng Việt để biểu đạt ý nghĩa nhân xưng khái quát như ví dụ sau: Đến năm 2000, thanh toán một số bệnh dịch và bệnh xã hội nguy hiểm như: bại liệt, uốn ván, sởi, hạch hầu, ho gà, bệnh phong, bệnh lao, bệnh sốt rét, bệnh bướu cổ và đần độn”. Vấn đề sẽ nảy sinh trong dịch thuật khi một nguyên tắc “end-weight” có vẻ như “đụng độ” với các nguyên tắc cơ bản trong ngôn ngữ dịch (trong trường hợp này là tiếng Anh) vốn liên quan đến việc đặt chủ ngữ trước vị ngữ. Ví dụ trên (câu không có chủ ngữ) khi chuyển sang tiếng Anh thường được gợi ý sử dụng cấu trúc bị động [3,34] và sẽ được dịch “Some epidemic diseases and fatal social diseases such as polio, tetanus, measles, diphtheria, whooping cough, leprocy, tuberculosis, malaria, goiter, and cretinism will have been eradicated by the year 2000”. Cần lưu ý rằng bằng cách trung thành với nguyên tắc chủ ngữ trước vị ngữ, người dịch đã bỏ qua nguyên tắc xem trọng phần cuối. Kết quả là câu dịch không tự nhiên và dễ dàng nhận thấy không “Anh” chút nào. Câu dịch gồm một chủ ngữ “nặng” (dài) và một động từ “rất nhẹ” (ngắn). Chúng ta có thể giải quyết thoả đáng mâu thuẫn giữa hai nguyên tắc này bằng cách chuyển cấu trúc thụ động sang chủ động và có thể sử dụng các chủ ngữ như: “we”/ “the year 2000”/ “the city” / “the government will have eradicated epidemic diseases and fatal social diseases such as…
4. Quan điểm của trường phái Praha về dòng thông tin
4.1. Lý thuyết chức năng câu (Functional Sentence Perspective, viết tắt là FSP)
Lý thuyết chức năng câu (FSP) do một nhóm nhà ngôn ngữ Tiệp Khắc đề xướng vào những năm 30 [dẫn theo Halliday 7,315], bắt đầu từ Mathesius về sau có Danes, Firbas… Quan điểm này về đề-thuyết và tin cũ-tin mới khá khác biệt với đường hướng Halliday. Firbas [dẫn theo Mona Baker 1,160] đã nêu một ví dụ sau “John has been taken ill”. Trong ngữ cảnh, câu trên sẽ có chức năng theo một loại phối cảnh nào đó tuỳ thuộc vào mục đích giao tiếp, ví dụ có chức năng thông báo sức khỏe của một người (John has been taken ill). Có chức năng khẳng định thông tin là đúng (John has been taken ill). Đáng lưu ý là những gì Firbas mô tả FSP trong câu này sẽ được phân tích thuần túy theo mô hình Halliday.
4.2 Tính năng động giao tiếp (Communicative Dynamism, viết tắt là CD)
Các quan niệm trên được bổ sung theo mô hình Firbas với một khái niệm về CD. Theo đó, mỗi mệnh đề gồm các loại thành phần khác nhau. Một số thành phần đặt nềnmóng cho các thành phần có thể chuyển tải thông tin. Những thành phần đặt nền móng này (foundation laying elements) thường có ít giá trị giao tiếp, phụ thuộc ngữ cảnh (context- dependent) và là “đề”. Nếu lấy lại ví dụ: “John has been taken ill” có chức năng thông báo về sức khỏe của John) thì thành phần đặt nền móng sẽ là “John”. Thành phần còn lại thực hiện mục đích giao tiếp của phát ngôn và là “thuyết”. Thành phần tạo ra cốt lõi (core-constituing elements) đóng vai “phi đề” (non-theme), độc lập ngữ cảnh (context – independent) và chuyển mức độ CD cao hơn. Về sau, Firbas giải thích thêm rằng “phi đề” gồm hai thành phần: chuyển đề (transition) và thuyết (rheme). Chuyển đề gồm các thành phần tạo ra cốt lõi. Trong ví dụ “John has been taken ill”. Chuyển đề là “has been + en”. Chuyển đề cũng có thể gồm một động từ nối như “be”/ “seem” và thuyết là “take + ill.”
Ngoài chuyển đề vừa nêu, lý thuyết FSP còn quy vị trí đề/ thuyết cho động từ tuỳ thuộc vào ngữ cảnh và ngữ nghĩa của chính động từ, về mặt ngữ nghĩa, các động từ nối như “be”, “seem” thường đi với đề như một thành phần đặt nền móng. Về mặt ngữ cảnh, ví dụ sau của Scinto (dẫn theo Mona Baker, 1,163) sẽ cho ta câu trả lời rõ ràng hơn: “Leander bought a new book”. Nếu ta đặt cho câu này bằng các câu hỏi: “what did Leander buy?” hoặc “what did Leander do ?” Với câu hỏi thứ nhất , câu trả lời là “a new book”. Câu hỏi thứ hai, câu trả lời là “bought a new book”. Hai câu trả lời này cho thấy rằng động từ có thể là một thành phần của đề/ của thuyết. Ở câu hỏi một, động từ được đề hoá, ở câu hỏi hai, động từ là “thuyết”và được thay bằng một động từ đầy đủ tức là “to do”.
Có thể thấy từ việc xem động từ vừa có thành phần đề vừa có thành phần thuyết, các nhà lý thuyết FSP còn thừa nhận cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ cảnh là các nhân tố xác định thêm sự phân bố CD, vì vậy CD là do sự tác động tương hổ của 3 nhân tố: sự thay đổi tuyến tính, cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ cảnh. Cấu trúc ngữ nghĩa và ngữ cảnh hoạt động hoặc cùng hướng hoặc ngược hướng với sự thay đổi tuyến tính (Firbas, [dẫn theo Mona Baker]) nhưng cả hai theo thứ bậc thường ưu thế hơn sự thay đổi tuyến tính. Ví dụ, đại từ trừ các ngữ cảnh mà chúng được trình bày tương phản, vì phụ thuộc ngữ cảnh nên chúng luôn mang mức độ CD thấp bất kể vị trí chúng xuất hiện trong mệnh đề. Trong câu “I gave the book to him /I gave him the book”, “him” thường được xem là “đề” theo lý thuyết FSP. Tương tự, các từ ngữ chỉ định được xem là “đề” và các từ ngữ không chỉ định được xem là “thuyết”. Xin xem ví dụ sau:
•      A heavy dew (thuyết) had (chuyển đề) fallen (đề).
•      The grass (đề) was (chuyển đề) blue (thuyết).
Việc phân tích các thành phần mệnh đề theo FSP là một công việc phức tạp và không dễ dàng ứng dụng như mô hình Halliday. Tuy nhiên, việc hiểu biết cơ bản về quan điểm này có thể mang lại sự hữu ích cho người dịch.
4.3. Sự xếp tuyến tính và cấu trúc đánh dấu trong FSP
Vì các nhà lý thuyết FSP không công nhận vị trí câu là tiêu chí duy nhất để quy
vị trí đề cho các thành phần mệnh đề nên hệ quả là hai diễn đạt khác nhau, có cùng thông tin có thể có cùng “đề”. Xin xem ví dụ:
•      In China the book received a great deal of publicity.
•      The book received a great deal of publicity in China.
Theo quan điểm FSP, “In China” đều xem là “thuyết ở 2 diễn đạt trên. Trái lại, đối với đường hướng Halliday “In China” là “đề được đánh dấu” ở ví dụ đầu nhưng lại là “thuyết” ở ví dụ thứ hai. Vậy câu hỏi là liệu có một đề được đánh dấu (marked theme) theo lý thuyết FSP không? Vì vấn đề tạo ra một đề đánh dấu bằng cách đặt một thành phần ở vị trí đầu của mệnh đề giả định rằng ví trí đầu đó dành cho “đề”. Tuy nhiên theo Mona Baker [1,165] các nhà lý thuyết FSP cùng thừa nhận có các cấu trúc được đánh dấu và không đánh dấu ở từng ngôn ngữ. Dưới đây là sự giải thích của họ nhưng có khác biệt với đường hướng Halliday. Theo Mathesius và Firbas [ dẫn theo Mona Baker, 165] bản chất tương tác gợi ý rằng trật tự từ thông thường, không đánh dấu của các phân đoạn thông tin là “đề” theo sau là “thuyết”. Vì vậy tổ chức một thông tin thành chuỗi đề-thuyết là trật tự thông thường, không đánh dấu và họ cũng gợi ý thêm các chuỗi mà lệch khỏi trật tự thông thường này có xảy ra. Họ gọi một tổ chức thuyết-đề của một thông tin là trật tự “biểu cảm” (pathetic order) [Firbas, dẫn theo Mona Baker
1,165]. Trật tự biểu cảm này được đánh dấu và chức năng của nó là chuyển một sự biểu cảm nào đó. Vì vậy câu “well-publicized the book was” được xem là “đánh dấu” ở cả đường hướng Halliday lẫn trường phái Praha. Tuy nhiên, một nhà ngôn ngữ theo Halliday phân tích câu trên là chuỗi “đề” đặt đầu câu theo sau là “thuyết” còn một nhà ngôn ngữ Praha sẽ phân tích câu trên là chuỗi “thuyết-đề”.
5. Các chiến lược gợi ý nhằm giải quyết độ căng (tension) giữa chức năng cú pháp và chức năng thông tin trong dịch thuật và giảng dạy ngôn ngữ
Một số nhà ngôn ngữ học Johns (1991), Papegaaij và Schubert (1998) [dẫn theo Mona Baker 1,167] đã gợi ý một số chiến lược để giải quyết vấn đề nói trên. Ở đây, chúng tôi sẽ cố gắng thảo luận một số chiến lược với các ví dụ (nếu có thể) được trích từ các văn bản tiếng Anh và các bản dịch từ Anh sang Việt và ngược lại.
Chiến lược 1: Thay đổi dạng (voice change)
Chiến lược này liên quan đến việc thay đổi hình thái cú pháp của động từ để đạt được một chuỗi thành phần khác. Các ví dụ sau liên quan đến việc dùng dạng chủ động thay cho dạng bị động và ngược lại.
-Văn bản tiếng Anh:
The implications of these results for understanding the childhood antecedents of type A behavior are discussed.
-Văn bản dịch tiếng Việt gợi ý:
Bài báo/tác giả bài báo/ chúng tôi thảo luận về các khuyến nghị của các kết quả
nói trên để hiểu lai lịch giai đoạn đầu của hành vi nhóm A
-Văn bản tiếng Việt:
- Ảnh hưởng các yếu tố như thời gian khuấy, pH dung dịch, nồng độ bentonit, nồng độ Cu2+ , nhiệt độ ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ Cu2+ trên betonit Thuận Hải đã được khảo sát.
-Văn bản dịch tiếng Anh:
The influence of different factors such as shaking time, pH of aqueous solution, amount of absorbent, Cu2+ on the Thuan Hai bentonit has been also investigated (7)
-Văn bản dịch tiếng Anh gợi ý:
The paper/the present author / we investigate(s) the influence of …
Cấu trúc khiến tác (Ergative structure) cũng có thể cung cấp một chiến lược tương tự như chiến lược thay đổi dạng. Khiến tác liên quan đến việc sử dụng một tân ngữ của một ngoại động từ làm chủ ngữ của một nội động từ, ví dụ: “The government developed the economy very fast in the 1980’s” và “The economy developed very fast in the 1980’s”.
Chiến lược 2: Thay đổi động từ (change of verb)
Chiến lược này liên quan đến việc thay đổi một động từ với một động từ khác có nghĩa tương đương nhưng có thể dùng cấu trúc cú pháp khác nhau, ví dụ: “She likes very much the way George put it” và “The way George put it pleased her”.
Chiến lược 3: Danh hóa (nominalization)
Danh hóa liên quan đến việc thay hình thái một động từ bằng một hình thái danh từ (ví dụ: describe>description) và thường kèm theo động từ “rỗng” về mặt ngữ nghĩa như “give” “take” khi ở dạng bị động. Để minh hoạ tính hữu dụng của chiến lược danh hóa, có lẽ ta nên xem xét chiến lược đó có thể được dùng để dịch tốt hơn một văn bản hiện có.
-Văn bản dịch tiếng Anh:
The influence of various factors such as trichloroacetic acid, rare earth concentrations and salting out agent concentration on the distribution coefficient has been studied.
-Văn bản dịch lại gợi ý:
A study is carried out of the influence of various such as … Johns (1991) cũng cho rằng danh hóa cũng có thể đặt sau một chủ ngữ “yếu” như “this” trong ví dụ: “This is a study of the influence of …
Chiến lược 4: Hoán chuyển vị trí (extraposition)
Chiến lược này liên quan đến việc đổi vị trí của toàn bộ mệnh đề bằng cách lồng một câu đơn vào một câu phức. Cấu trúc chêm xen và cấu trúc chêm xen giả (xin xem
3.2) cung cấp các ví dụ hữu dụng về chiến lược này.
6. Kết luận
Việc hiểu biết hai quan điểm về dòng thông tin và các chiến lược giải quyết “độ
căng” giữa chức năng cú pháp và chức năng thông tin là rất quan trọng trong dịch thuật. Tuy nhiên, hầu hết các dịch giả thường ưa thích các nguyên tắc cú pháp của ngôn ngữ dịch hơn là cấu trúc thông tin của ngôn ngữ gốc. Theo Mona Baker [1,172], người dịch không phải lúc nào cũng tuân theo sự sắp xếp đề thuyết của bản gốc nhưng điều quan trọng là văn bản dịch có sự sắp xếp đề – thuyết riêng của nó và văn bản đó được đọc một cách nhẹ nhàng và tự nhiên, không bóp méo cấu trúc thông tin của văn bản gốc (xin xem mục 3.3) và giữ được một sự nhấn mạnh nào đó được thể hiện ở các cấu trúc được đánh dấu ở bản gốc và văn bản dịch với tư cách là một văn bản phải giữ được điểm nhìn mạch lạc.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]  Baker, M. (1992), In Other Words: A Coursebook on Translation, Routledge. [2]  Brown, G. & Yule, G. (1983), Discourse Analysis, Cambridge University.
[3]  Bùi Tiến Bảo và Đặng Xuân Thu (1999), Lý thuyết dịch, Nxb Giáo dục.
[4]  Cao Xuân Hạo và một số tác giả (1999), Ngữ pháp chức năng tiếng Việt, Quyển 1,
Nxb Giáo dục.
[5]  Cù Đình Tú (1983), Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt, NXB Đại học và
Trung học chuyên nghiệp.
[6]  Greenbaum, Sidney & Quirk Randolph (1990), A Student’s Grammar, Longman. [7]  Halliday, M.A.K (1985), An Introduction to Functional Grammar, Edward Arnold. [8]  Hatim, B. & Mason, I. (1990), Discourse and the Translator, Longman.
[9]  Jacobs, Roderick A (1995), English Syntax, Oxford University Press. [10] James, C. (1980), Contrastive Analysis, Longman.
[11] Larson, Mildred L. (1998), Meaning-based Translation, University Press of America. [12] Lock, G. (1999) Functional English Grammar, Cambridge University Press.
[13] Lý Toàn Thắng (2004), Lý thuyết trật tự từ trong cú pháp, NXB Giáo dục. [14] Matin, JR & et al. (1997), Working with Functional Grammar, Arnold.
[15] Newmark, P. (1998), A Textbook of Translation, Prentice Hall International.
[16] Nguyễn Hồng Cổn (2000), “Về sự phi đối xứng giữa hình thức và ý nghĩa trong các đơn vị ngữ pháp”, Ngôn ngữ, số 7.2000, tr 36-47.
[17] Phan Ngọc (2000), Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học, NXB Trẻ.
[18] Pumpyanski (2002), Dịch văn bản khoa học và kỹ thuật sang tiếng Anh (Bản dịch tiếng Việt của Đào Hồng Thu), NXB Khoa học – Kỹ thuật.
[19] Richards, Jack C & et al. (1992), Longman Dictionary of Language Teaching & Applied Linguistics, Longman.

Thứ Tư, 27 tháng 7, 2011

Những điểm cần lưu-ý khi dịch một văn-bản khoa-học – kĩ-thuật từ tiếng Anh sang tiếng Việt (Some challenges in the translation of an English scientific technical text into Vietnamese)


Những điểm cần lưu-ý khi dịch một văn-bản khoa-học – kĩ-thuật từ tiếng Anh sang tiếng Việt (Some challenges in the translation of an English scientific technical text into Vietnamese)

  • Nguyễn-Phước-Vĩnh-Cố, Trường Đại-học Ngoại-ngữ, Đại-học Đà-Nẵng
  • Nguyễn-Bắc-Nam, Đại-học Đà-Nẵng
TÓM TẮT
Khi dịch một văn bản Khoa học – Kỹ thuật từ Anh sang Việt, giáo viên và sinh viên ViệtNamhầu như không quen với các đặc trưng ngữ pháp (thể thụ động, vô nhân xưng, hình thái xưng hô…) vốn được xen lẫn với các biến thể ngôn ngữ khác. Để góp phần vào việc học tiếng Anh nói chung và dịch nói riêng, bài báo đề cập đến những thách thức mà người dịch gặp phải trong một văn bản KH- KT và phân tích những thách thức này qua việc xem xét 3 tham số ngữ vực: trường diễn ngôn, người tham dự diễn ngôn và phương thức diễn ngôn. Bài báo cũng nêu ra một số giải pháp để giải quyết những thách thức nói trên.
ABSTRACT
Most of the Vietnamese teachers and students seem to be unfamiliar with a scientific and technical text in English. Its characteristics and grammatical features (passive; impersonality; forms of address)… merge with other varieties of language. As part of an effort to contribute the ideas to the study of English in general and the field of translation in particular, the present paper refers to the challenges faced by the translator when dealing with a scientific and technical text and provides an analysis of these challenges by examining the three register parameters: field of discourse, tenor of discourse and mode of discourse. The paper also deals with some solutions to these challenges.
1. Đặt vấn đề
            Việc dịch một ngôn ngữ A thường được gọi là ngôn ngữ gốc (the source language) sang một ngôn ngữ B thường được gọi là ngôn ngữ đích (the target language) luôn đặt ra nhiều thách thức cho người dịch và nảy sinh một số vấn đề liên quan đến từ, cụm từ, câu… Vậy chuyển nghĩa một văn bản khoa học – kỹ thuật (KH-KT) từ Anh sang Việt người dịch sẽ gặp phải những thách thức và khó khăn gì? Hẳn câu nhận xét sau đây của Peter Newmark [8] là câu trả lời thỏa đáng nhất: “Technical translation is primarily distinguished from other forms of translation by terminology”. (Dịch kỹ thuật được phân biệt với các hình thức dịch khác chủ yếu bởi thuật ngữ). Với phát biểu trên, Peter Newmark thừa nhận một trong những khó khăn mà người dịch một văn bản KH-KT gặp phải chính là hệ thuật ngữ. Hệ thuật ngữ KH-KT vốn có những đặc trưng riêng biệt mà người dịch cần phải lưu tâm.

2. Các đặc trưng của một văn bản Khoa học – Kỹ thuật
2.1. Nguồn gốc của hệ thuật ngữ
            Trước hết hệ thống thuật ngữ KH-KT thường là từ La tinh, như: otorhinolaryngology, electro-encephalography, homo sapiens,… hoặc các từ có gốc từ La tinh: “to assert”, “to state”, “to declare” thay cho động từ “to say”, “to contaminate” thay cho động từ “to soil”, “to purify” thay cho động từ “to clean”.
2.2. Biến thể của ngôn ngữ
Kế đến, hệ thống thuật ngữ này còn là tên gọi cho một biến thể ngôn ngữ được ghi nhận có hai chiều.
2.2.1. Phương ngữ
Chiều thứ nhất là phương ngữ (dialect): Loại biến thể này được sử dụng phổ biến trong một cộng đồng hoặc nhóm người cụ thể. Một trong những biến thể đặc trưng nhất trong văn bản KH-KT tiếng Anh là loại phương ngữ địa lí (geographical) giữa tiếng Anh của người Anh (British English) và tiếng Anh của người Mỹ (American English). Xin nêu một vài ví dụ liên quan đến phương ngữ Anh và Mỹ.
Anh
Mỹ
flammable
inflammable
flat (battery)
dead (battery)
aerial
antenna
anticlockwise
counterclockwise
extension lead
power strip
gear lever
stick shift
mobile phone
cell phone
polystyrene
styrofoam
2.2.2. Ngữ vực
Chiều thứ hai là ngữ vực (register): Là loại biến thể ngôn ngữ mà người sử dụng ngôn ngữ xem xét phù hợp trong một tình huống cụ thể. Trong ba tham số biến thể của ngữ vực có thể phân biệt được là Trường (field), Người giao tiếp (tenor) và Phương thức thì Trường là một loại biến thể sử dụng ngôn ngữ phản ảnh những gì mà Gregory và Carol [3] gọi là “vai diễn có mục đích” vốn tương tự cách gọi “phạm vi” (province) của Crytal và Davy để nhấn mạnh thêm về nghề nghiệp, chuyên môn và chuyên ngành. Đây thực sự là một thách thức lớn nhất cho người dịch văn bản KH-KT. Theo quan điểm dịch thuật của Hatim và Mason [3], trường (field) có thể gây khó khăn cho người dịch khi chuyển nghĩa một ngôn ngữ gốc như tiếng Anh, vốn đã phát triển một nền văn hóa kỹ thuật cao mà Gregory gọi là “những trường được đánh dấu của diễn ngôn” (marked fields of discourse) để phản ánh thế giới kinh nghiệm rất phát triển của KH-KT của nền văn hóa nói trên. Rõ ràng người dịch từ ngôn ngữ gốc như tiếng Anh sang các ngôn ngữ đích ở các nước đang phát triển như Việt Nam, Lào… sẽ gặp phải những thách thức đó là phải tạo ra các từ mới liên quan đến trường ngôn ngữ KH-KT. Đồng với quan điểm này Peter Newmark cũng cho rằng: “khó khăn chủ yếu trong dịch một văn bản KH-KT là thuật ngữ mới”. Trường hợp điển hình nhất là từ “friendly” khi kết hợp với một từ khác cho ra các từ như “user-friendly”, “environment-friendly”, “family-friendly” đều có nghĩa hết sức khác nhau nhưng đa phần được dịch là “thân thiện với người dùng”!?, thân thiện với môi trường!?, “thân thiện với gia đình!?”. Đó là chưa kể đến một loạt từ mới như: “podcast”, “script kiddies”, “andropause”, “ubersexual” mà hiện nay vẫn vắng bóng ở các từ điển bản ngữ như Oxford thì ắt hẳn là một thách thức cho người dịch để tạo ra các từ mới, cách diễn đạt mới chưa có trong nền văn hóa KH&KT của ngôn ngữ mình. Ngoài những thách thức nói trên, cũng cần nói đến những nhân tố không kém phần quan trọng thường gây khó khăn cho người dịch, đó là:
            a/ Người dịch không am hiểu chủ đề (topic). Chủ đề hiểu ở đây là chủ đề của diễn ngôn, một bộ phận của diễn ngôn như chủ đề ngữ pháp tiếng Anh, chủ đề toán học, chủ đề chính trị hoặc tôn giáo. Có những người dịch rất thông thạo một chủ đề nào đó như tiếng Anh thương mại nhưng lại rất lúng túng trước các từ ngữ chuyên ngành về luật như “civil law”, “common law”… Xin đưa ra một số thuật ngữ liên quan đến các chủ đề nói trên để chúng ta những người dịch xem xét mức độ am hiểu về mỗi chủ đề.
Maths: Theorem; equation; map; variable; density; diameter; constant; solution; proportion….
Regilion: Supreme Being; trinity; Lucifer; Shiva; abode of the blessed; polytheism; Brahmanism; blasphemy; Karma; Great vehicle…
b/ Thiếu kiến thức về chuyên môn (technicality). Tính chuyên môn cũng là đặc trưng quan trọng nhất của hệ thuật ngữ KH&KT. Tính chuyên môn được hiểu ở đây là mức độ chúng ta sử dụng các từ ngữ từ các ngành, nghề cụ thể theo một cách chính xác hơn. Gần đây ta thấy trên báo chí thường sử dụng từ “chim xệ cánh” thay cho một từ chỉ một bệnh trong y học là “xơ hóa cơ Delta” vốn được dùng trong giới y học. Rõ ràng xét từ góc độ chuyên môn, người dịch sẽ lúng túng với từ “phoneme” hơn là từ “sound”, với từ “pertussis” hơn là từ “whooping cough”.
            c/ Tính kết hợp các ngữ vực chuyên ngành: trong tiếng Anh phổ thông việc kết hợp từ vựng thường được đoán rất dễ dàng vì chúng rất tiêu biểu và phổ biến nhưng đối với ngôn ngữ chuyên ngành, một số kết hợp như vậy có vẻ như không đặc trưng lắm trong ngôn ngữ hàng ngày nhưng lại rất phổ biến trong ngữ vực chuyên ngành. Sinclair [1] cho rằng các cụm từ “dull highlights” và “vigorous depressions” có thể nghe lạ lẫm trong tiếng Anh thường ngày, nhưng lại là những kết hợp phổ biến trong lĩnh vực nhiếp ảnh và khí tượng học. Trong thống kê các sự kết hợp như “biased error” và “tolerable error” đều phổ biến và chấp nhận được. Các kết hợp nói trên có vẻ lạ lẫm trong giao tiếp Anh ngữ hàng ngày thì chắc chắn cũng là một khó khăn cho người dịch.
            d/ Tính đa nghĩa của từ khi kết hợp: Các từ có nhiều nghĩa khác nhau khi được kết hợp nhiều cách khác nhau cũng là một khó khăn cho người dịch. Từ “medicine” có 3 nghĩa: 1) y học/ ngành y; 2) thuốc uống; 3) nội khoa. Khi kết hợp với các động từ “to study” hoặc “to practise” thì mang nghĩa 1). Khi kết hợp với “to take” hoặc “to drink” thì mang nghĩa 2). Trường hợp từ “medicine” khi kết hợp với các tính ngữ “traditional/ conventional/ orthodox/ alternative…. thì nó có nghĩa là nền y học. Nếu nó đi với các từ “cough” hay ” herbal” lại có nghĩa thuốc thang, khi kết hợp với từ internal nó có nghĩa là nội khoa.
            e/ Các từ kỹ thuật hướng về sự vật và các từ khoa học hướng về quan niệm thường có nhiều nghĩa ở các ngành công nghệ cũng là một vấn đề trong dịch. Từ “module” có bốn nghĩa ở các chuyên ngành khác nhau. Các từ khác như “field”, “matrix”, “force”, “power” cũng có hơn một nghĩa trong nhiều lĩnh vực.
2.3. Người giao tiếp
Tiếp đến, một điều không thể không nói đến trong văn bản KH-KT là người giao tiếp (tenor of discourse), chỉ mối quan hệ giữa người nói và người nghe, người viết và người đọc. Trong văn bản KH-KT, vấn đề xưng hô là vấn đề thú vị nhất nhưng đồng thời cũng gây không ít khó khăn trong dịch thuật. Trong văn bản KH-KT, nếu có sử dụng hình thái xưng hô người ta thường tránh né “cái tôi” đáng ghét “I”, thậm chí là “We”. Người ta thường thay vào đó một loạt cấu trúc vô nhân xưng (impersonality) như: 1) đại từ nhân xưng không xác định; 2) cấu trúc bị động; 3) vai trò các trạng ngữ biểu thị thái độ, quan điểm của tác giả đối với mệnh đề thông tin đi liền phía sau. Sự tránh né như thế là rất phổ biến trong văn bản KH-KT, nơi mà người ta cho thông tin quan trọng hơn người tham dự diễn ngôn.
2.3.1. Trường hợp sử dụng đại từ nhân xưng “one”
Xem xét các ví dụ sau:
            – One may be left with choice between different bond lengths (có thể lựa chọn các chiều dài liên kết khác nhau).
            – When one considers the number of species of animals, birds, microorganism, he begins to wonder perhaps how there could be so many millions of different proteins (Khi xem xét số lượng loài động vật, chim muông, vi sinh vật, ta bắt đầu ngạc nhiên là làm thế nào có thể có bao nhiêu triệu protein khác nhau).
Đối với đại từ nhân xưng “one” khi dịch sang tiếng Việt ở hai ví dụ nêu trên ta thấy người dịch loại bỏ từ “one”. Điều này tương ứng với cách rút bỏ chủ ngữ vốn rất phổ biến trong tiếng Việt để diễn đạt ý nghĩa nhân xưng khái quát. Ở một số văn bản, đại từ “he” thường thay thế cho “one” tránh sự lặp lại nhưng chức năng vẫn là một đại từ vô nhân xưng, trường hợp này nên dịch là “người ta” hay “ta”.
2.3.2. Cấu trúc bị động
Trong văn bản KH-KT, cấu trúc bị động thường được sử dụng rất phổ biến để mô tả, giải thích các hiện tượng cụ thể hay quá trình và cho phép ta loại bỏ ngôi thứ nhất. Loại cấu trúc này khi chuyển sang tiếng Việt thường được thay thế bằng cấu trúc chủ động hay có thể dùng dạng bị động tương đương. Xem các ví dụ sau:
            – He was shown the equipment (người ta chỉ cho anh ta thiết bị mới).
            – The reaction is run in the cold (phản ứng xảy ra trong điều kiện lạnh).
            – The temperature is risen (người ta tăng nhiệt độ).
            Quan trọng hơn cả là việc dịch các câu bị động mà thông tin được xét ở góc độ của lý thuyết sự phân đoạn thực tại câu. Cấu trúc bị động được dùng để báo hiệu phần thuyết (rheme) và nhằm tạo ra một trật tự khách quan. Xem ví dụ:
            – This method of nitrotion has been reported by several scientists.
            Nếu ta dùng cấu trúc chủ động để dịch câu trên thì “phương pháp nitrô hóa này” là cái đã biết (given information) nhưng lại nằm trong phần thuyết (rheme) do đó “không tự nhiên bằng nếu được đặt vào vị trí chủ đề một câu bị động. “phương pháp nitrô hóa này” đã được mô tả bởi một số nhà nghiên cứu. Song song với nguyên tắc trên (tin cũ trước tin mới) nhiều tác giả các văn bản KH-KT tiếng Anh ưa thích việc đặt các cấu trúc “dài hơn” và “nặng hơn” ở cuối mệnh đề (end-weight). Điều này lý giải tại sao người ta chọn cấu trúc bị động chứ không phải cấu trúc chủ động.
- The Robosaurus is controlled by a human pilot who sits inside its head.
            Vì vậy khi gặp phải cấu trúc trên, thì việc sử dụng cấu trúc bị động để dịch sang tiếng Việt sẽ tự nhiên hơn nhiều so với cấu trúc chủ động.
2.3.3. Vai trò các trạng ngữ biểu thị thái độ
Quan điểm của tác giả đối với mệnh đề thông tin đi liền phía sau (disjuncts).
            Ở văn bản KH-KT các trạng ngữ biểu thị thái độ của tác giả với thông tin của phát ngôn tiếp theo như “admittedly”, “announcedly”, “reportedly”, “apparently”,… được sử dụng khá phổ biến. Các trạng ngữ này thường thay cho câu vô nhân xưng như “it is admitted”, “it is announced”, “it is apparently”. Thông thường người dịch văn bản KH-KT thường bỏ qua vai trò của các trạng ngữ này hoặc xem nó như một trạng ngữ bổ nghĩa. Tuy nhiên đối với người dịch có năng lực sẽ dễ dàng nhận ra mối quan hệ giữa tác giả từ các trạng ngữ này đối với văn bản. Ở góc độ người giao tiếp diễn ngôn (tenor), ta thấy nghĩa các trạng ngữ này vắng bóng cá nhân tác giả thay vào đó là “số đông”. Xem các ví dụ sau:
            – These interpretations are admittedly conjectural (người ta cho rằng các lý giải này là giả định).
            – This is, announcedly, a very powerful reaction (theo thông báo đây là chất phản ứng rất mạnh).
2.4. Phương thức diễn ngôn
Điểm lưu ý cuối cùng là phương thức diễn ngôn (mode of discourse): chỉ vai trò của ngôn ngữ đang hoạt động (diễn văn, tiểu luận, diễn thuyết, các hướng dẫn…) và kênh truyền đạt của ngôn ngữ (nói, viết). Sự lựa chọn của ngôn ngữ luôn bị chi phối bởi hai chiều nói trên. Ở đây sự phân biệt cơ bản là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết. Trong ngôn ngữ nói, theoBell[2] trọng tâm thông tin có thể thay đổi theo ngữ điệu và ý định người nói thường được chỉ ra thông qua ngữ điệu, cử chỉ, vẻ mặt và các kênh bổ trợ đó lại vắng mặt trong ngôn ngữ viết. Vì vậy, người viết thường phải nhấn mạnh những bộ phận của văn bản bằng các trạng ngữ chỉ cho người đọc đọc chúng như thế nào (ví dụ: “unfortuanately”…, “to be frank”… hoặc các cấu trúc chêm xen (cleft sentences) để nhấn mạnh thông tin. Đây chính là đặc điểm quan trọng người dịch phải biết khi dịch một văn bản KH-KT nói hay viết.

3. Kết luận
3.1. Tính chính xác
Qua các điểm “lưu ý” có ý nghĩa quan trọng đối với người dịch nói trên, vẫn còn một đôi điều đáng chú ý nữa để có một bản dịch KH-KT đáng tin cậy. Điểm đầu tiên là tính chính xác (accuracy). Trong một văn bản KH-KT, tính chính xác liên quan đến trường của diễn ngôn (field of discourse) tức hệ thuật ngữ (terminology). Cũng cần phải nhắc lại rằng trong khoa học ngôn ngữ thường hướng đến khái niệm còn trong kỹ thuật ngôn ngữ thường hướng tới sự vật [8]. Chính vì vậy để có được tính chính xác trong dịch các văn bản KH-KT. Khi gặp phải một khái niệm KH hoặc mô hình trừu tượng cố gắng khám phá khái niệm hoặc mô hình trừu tượng đó bằng một phương tiện nào đó. Hãy vẽ khái niệm hoặc mô hình trừu tượng đó. Hãy phác họa chúng. Hãy vẽ phát đồ phát triển khái niệm hoặc mô hình trừu tượng đó. Đối với thuật ngữ kỹ thuật thì việc học từ ngữ bằng chủ đề, các hình vẽ, các biểu đồ là vô cùng hữu ích. Ví dụ, trong lĩnh vực xây dựng dân dụng, chúng ta phải học các từ cơ bản liên quan đến việc dịch thuật như: Plumb-line, level, scaffold, belt-conveyor, concret mixer, foundations, wiring… thường được minh họa qua các tranh ảnh, biểu đồ ở các giáo trình kỹ thuật như Tech Talk, các từ điển Oxford – Duden Pictorial English Dictionary. Kể cả các động từ chúng thường kết hợp “to need”, “install”, “assembly”, “check”….
3.2. Tính trang trọng và tính chuyên môn
Thứ đến tính chính xác cũng ảnh hưởng đến hai nhân tố khác là tính trang trọng (formality): là thước đo cho thấy sự lưu ý đến cấu trúc thông tin, sự lựa chọn từ ngữ của người nói (người viết) và tính chuyên môn (technicality) vốn đóng một vai trò quan trọng trong văn bản KH-KT. Chủ đề, tính trang trọng và tính chuyên môn ảnh hưởng đến việc chọn từ ít ra ở hai phương diện. Thứ nhất, chúng có thể xác định được các từ ngữ chúng ta sử dụng. Chúng ta thường có thể xác định chủ đề mức độ chuyên môn của các từ ngữ được dùng. Từ “quark” cho ta thấy người ta đang nói chuyện về vật lý phân tử. Từ “byte” cho ta thấy người ta đang nói chuyện về lĩnh vực công nghệ thông tin. Thứ hai, 3 nhân tố này có thể xác định nghĩa của từ. Thí dụ, từ “morphology” có nghĩa là “các hình thái của từ” ở ngữ cảnh ngôn ngữ học, nhưng lại có nghĩa là “hình dạng và cấu tạo của động và thực vật” ở ngữ cảnh sinh học.
3.3. Vai trò người dịch
Cuối cùng cần phải nói đến kinh nghiệm của người dịch mà vốn liếng cần nhất là sự hiểu biết đại cương về chuyên ngành sẽ dịch. Muốn vậy, người dịch phải học bằng nhiều cách: làm việc với người có kiến thức chuyên ngành (học và hỏi); các nguồn sách tham khảo và từ điển; theo học các lớp học liên quan đến lĩnh vực chuyên ngành; đọc sách báo, nghe đài, xem ti vi; lập nhóm thảo luận về dịch thuật…. và nếu bạn đồng ý “Experience is the best teacher” thì câu sau đây của Pym [10] là một kinh nghiệm trong lĩnh vực dịch văn bản KH-KT: “To understand a medical text in one language one must read like a doctor or nurse or a hospital administrator (or whatever) in that language; to translate it effectively into another language one must write like a doctor (or whatever) in that other language.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Baker, Mona, In Other Words, Routledge, 1992.
[2] Bell, Roger. T., Translation and Translating Longman, 1991.
[3] Hatim and T. Mason, Dis course and the Translator, Routledge, 1990.
[4] Hatim and T. Mason, The Translator as Communicator, Routledge, 1990.
[5] Gerald P., Delahunty and James J., Garvey, Language, Grammar and Communication, Mc Graw – Hill, Inc, 1994.
[6] Larson L. Mildred, Meaning – based Translation, University Press of America, Longman Dictionary of Language Teacher and Applied Linguistics, 2000.
[7] Newmark, Peter, A text book of Translation, Prentice Hall International, 1988.
[8] Newmark, Peter, Approaches to translation, Prentice Hall International, 1984.
[9] Robinson, Douglas, Becoming a Translator, Routledge, 1997.
[10] Vicki, Hollett, Tech Talk,Oxford Press, 2004.
[11] Chu Xuân Nguyên, Từ điển Việt – Anh theo chủ điểm, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1992.
[12] Từ điển Anh – Việt, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 1988.
[13] Hornby, Oxford Advanced learner’s Dictionary, Oxford University Press, 2005.
[14] Nguyễn Phước Vĩnh Cố, Nguyễn Bắc Nam, Thử bàn về khía cạnh ngữ dụng với việc dịch từ tiếng Anh chuyên ngành, Kỷ yếu Hội nghị Khoa học Đại học Đà Nẵng, 2004.
[15] Pumpyanski, Dịch văn bản khoa học và kỹ thuật sang tiếng Anh, Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật