The more I study, the more I know. The more I know, the more I forget. The more I forget, the less I know . So Why Study?

Thứ Sáu, 25 tháng 1, 2013

ĐẶC TÍNH TỪ VỰNG VÀ NGỮ PHÁP CỦA TIẾNG ANH PHÁP LÝ



                ĐẶC TÍNH TỪ VỰNG VÀ NGỮ PHÁP CỦA TIẾNG ANH         
                                                                 PHÁP LÝ
        LEXICO-GRAMMATICAL PROPERTIES OF LEGAL ENGLISH
                                                        
                                                             Nguyễn Phước Vĩnh Cố
                                   Trường Đại Học Ngoại Ngữ, Đại Học Đà Nẵng
                                                                                              


                                                    The law is the profession of words
                                                  David Mellinkoff [dẫn theo Standford,15]
                                      
                                
                                                             TÓM TẮT
Bất kỳ ai đọc một văn bản tiếng Anh pháp lý hẵn phải nhận thức rằng nó trình bày hai thành phần cơ bản: các từ vựng chuyên môn (từ vựng) và các cấu trúc câu lạ lẫm (ngữ pháp). Cả hai thành phần này góp phần vào các đặc trưng riêng biệt của một văn bản viết của tiếng Anh pháp lý mà là nguyên nhân gây ra những khó khăn cho người đọc, người dịch, đặc biệt cho sinh viên học tiếng Anh. Đó là lý do tại sao bài báo giới thiệu, phân loại, mô tả các đặc trưng chính của tiếng Anh pháp lý như các từ cổ và các từ vựng ít khi sử dụng, từ Latinh, các cặp từ đồng nghĩa, từ ngữ chuyên môn. Bài báo cũng cung cấp một số đặc tính ngữ pháp thường được dùng trong các văn bản viết trong tiếng Anh pháp lý.      

                                                             ABSTRACT
Anyone who reads a legal English text must be aware that it presents two fundamental components: specialized vocabularies (lexical) and unusual sentence structures (grammatical). They both contribute to the peculiarities of a written text in legal English which are the cause of some problems for any readers/translators, especially for students of English. This is the reason why the paper presents, classifies, and describes the main characteristics of legal English such as archaic or rarely used lexical items, Latin words, binominals, technical terms.
Some grammatical properties of written texts in legal English are also introduced in the paper.
Keywords: legal English, Latin words, binominals, ESP, specialised English.
1.Giới thiệu
Trước hết, mục đích của bài báo là cung cấp cho sinh viên tiếng Anh nói chung và sinh viên luật nói riêng những kiến thức ngôn ngữ cơ bản của tiếng Anh pháp lý mà có thể hữu ích và quan trọng để có thể hiểu tốt hơn khi đọc các văn kiện pháp lý như hợp đồng thương mại, các điều lệ thành lập công ty...Hơn nữa, ngoài vai trò là ngôn ngữ thương mại quốc tế, tiếng Anh còn là một ngôn ngữ chung (lingua franca) của cộng đồng pháp lý quốc tế, vì vậy sinh viên Việt nam ngày càng được yêu cầu phải có được kiến thức đủ để làm việc trong lĩnh vực tiếng Anh pháp lý. Hy vọng rằng sinh viên ngoại ngữ và sinh viên luật quan tâm về tiếng Anh pháp lý sẽ nhận được ít nhiều lợi ích từ các đặc trưng riêng biệt trong “Đặc Tính Từ Vựng-Ngữ Pháp Của Tiếng Anh Pháp Lý”.
2. Thuật ngữ
Để trả lời câu hỏi: “Thuật ngữ” là gì?”, Từ điển Longman về Ngôn Ngữ Học Ứng Dụng và Giảng Dạy [14] định nghĩa “ là những đơn vị từ vựng đặc biệt xuất hiện trong một môn học hay một chủ đề chuyên ngành”. (the special lexical items which occurs in a particular discipline or subject matter). Ví dụ, clause (mệnh đề), conjunction (liên từ), và aspect (thể) là một bộ phận thuật ngữ của ngữ pháp tiếng Anh. Còn các thuật ngữ như crime (tội phạm), family law (luật gia đình), intellectual property (sở hữu trí tuệ), prosecution (sự truy tố), plaintiff (nguyên đơn), defendent (bị cáo) là một bộ phận của tiếng Anh pháp lý.
3. Các loại tiếng Anh pháp lý
Tiếng Anh pháp lý gồm nhiều thể loại (genres), mổi thể loại đều có nhiều đặc trưng riêng biệt. Ngôn ngữ pháp lý này được xếp từ các lời thoại tại tòa án, ví dụ như các luật sư và các nhân chứng trong cuộc đối chất, đến các biệt ngữ (jargons) do các người đang hành nghề luật dùng trong các giao tiếp liên nhân, đến ngôn ngữ viết trong các báo cáo luật, và các văn bản pháp lý tục lệ như các hiệp ước quốc tế, các quy định, chính sách bảo hiểm, các hợp đồng buôn bán hay di chúc.                        
4. Các đặc trưng của văn bản viết của tiếng Anh pháp lý
Các đặc trưng chính của một văn bản viết trong tiếng Anh pháp lý gồm hai thành phần:
a) từ vựng
b) ngữ pháp
4.1 Các đặc trưng từ vựng
4.1.1 Từ La-tinh và từ có gốc từ tiếng Pháp
Dù có những cải cách gần đây khuyến khích sử dụng tiếng Anh chứ không phải tiếng La-tinh trong hệ thống tư pháp Anh vẫn nhưng có rất nhiều thuật ngữ La-tinh** trong văn bản viết của  tiếng Anh pháp lý. Tuy nhiên, một số từ La-tinh và từ có gốc từ tiếng Pháp lại rất quen thuộc với chúng ta (những người học tiếng Anh) đến nổi chúng ta ít thấy khó khăn khi gặp chúng trong các văn bản pháp luật như: “alias” (còn có tên khác là), “alibi” (bằng chứng ngoại phạm), “per se” (tự nó), “versus” (kiện ai), “terms” (điều khoản), “contract” (hợp đồng) ...
(1). Mick Clark, alias Sid Brown, is wanted for questioning by the police.
(2). The suspects all had good alibis for the day of the robbery.
(3). The drug is not harmful per se, but is dangerous when taken with alcohol.
Bên cạnh các từ ngữ La-tinh và từ có gốc từ tiếng Pháp phổ biến nói trên, ta sẽ bắt gặp một số thuật ngữ La-tinh thường gặp nhưng đôi khi lại là trở ngại cho người đọc một văn bản pháp lý tiếng Anh:
ad hoc: chỉ dùng cho việc này. Ex: an attorney ad hoc: người được ủy quyền cho việc này.
affidavit: bản khai làm chứng.
bona fide: thiện ý, trung thực. Ex: a bona fide charity: hội từ thiện thiện ý.
caveat: sự báo trước.
de facto: tồn tại trong thực tế. Ex: a de facto ruler: người cai trị trên thực tế.
de jure: theo quyền hạn, theo luật pháp. Ex: the de jure king: ông vua theo luật pháp.
Giống như thuật ngữ Latinh, một số thuật ngữ tiếng Pháp do nhiều nguyên nhân cũng hiện diện trong tiếng Anh pháp lý. Một số ví dụ sau minh họa các thuật ngữ pháp lý tiếng Anh có nguồn gốc tiếng Pháp: contract (hợp đồng), proposal, schedule, terms, conditions, policy, alias, quash, plaintiff, appeal...v.v.
4.1.2 Các từ ngữ cổ hoặc từ ngữ ít dùng
Các từ ngữ này có thể là: a) trạng ngữ như “hereinafter” (dưới đây/sau đây) b) động từ như “darraign” (giải quyết một lời buộc tội hoặc cuộc tranh luận  ) c) danh từ như “surrejoinder” (câu trả lời của nguyên đơn cho lời cãi của bị cáo) d) tính từ như “aforesaid” (vừa đề cập)...vv.
4.1.3 Các cặp từ đồng nghĩa/gần đồng nghĩa
Một số trong số các kết hợp đặc trưng nhất là những kết hợp mà các từ đồng nghĩa/gần đồng nghĩa kết hợp lại, đôi lúc là ba từ (trinominals) nhưng thông thường hai từ (binomials) như: “made and signed”, “terms and conditions”, “able and willing”...và ba từ: “build, erect and construct”. Các từ như thế có thể là danh từ (convenants and obligations), động từ (made and signed), tính từ (null and void) và thậm chí là giới từ (by and between). Xin xem một vài ví dụ tiêu biểu sau:
(4). ...the terms and conditions set forth in this agreement...
(5). This is the last will and testament of me...
(6). I give, devise, and bequest all my property of every nature and kind...
(7). The same may be amended, supplemented or modified in accordance with the terms here of...
Một số nhà ngôn ngữ (Brown & Rice [3], Maltzev [10], cho rằng kết quả của các cặp từ đồng nghĩa nói trên là do sự pha trộn của tiếng Anh, tiếng Pháp, và La-tinh. Để tránh mơ hồ nghĩa, những người làm luật đã dùng các từ từ các ngôn ngữ khác nhau. Các ví dụ về các cặp từ đồng nghĩa có sự pha trộn giữa các ngôn ngữ như: “breaking and entering” (Anh/Pháp), “fit and proper” (Anh/Pháp), “land and tentement” (Anh/Pháp), “will and testament” (Anh/La-tinh). Các cặp từ đồng nghĩa (Anh-Anh) như: “let and hinderance”, “have and hold”...
4.1.4 Cấu trúc đảo trật tự từ
Theo Close [5], một số danh từ ghép, theo trật tự từ: danh từ + tính từ tiêu biểu trong tiếng Anh pháp lý. Brown & Rice [3] gọi trật tự từ nói trên là đảo trật tự từ: attorney(s)-general (viên chưởng lý), court(s)-martial (tòa án quân sự), notaries-public (công chứng), governor-general (viên toàn quyền), decree absolute (án văn chung thẩm)...
4.1.5 Từ chuyên môn
Bên cạnh các đặc trưng từ vựng như từ La-tinh, từ cổ, từ đồng nghĩa..., một đặc trưng đáng lưu ý của thuật ngữ pháp lý là từ chuyên môn của nó. Theo Tiersma [dẫn theo Bouharaoui,2], nếu một từ hoặc cụm từ được dùng riêng biệt bởi một một nghề hoặc một ngành đặt biệt hoặc  nếu ngành đó dùng từ đó theo một cách khác biệt với nghĩa thông thường của nó và từ đó có một nghĩa được định nghĩa tương đối rõ ràng, từ đó nên được xem là từ chuyên môn. Alcaruz và Brian [1] phân từ chuyên môn thành hai loại: a) các thuật ngữ thuần túy chuyên môn b) các thuật ngữ  bán chuyên môn.
4.1.5.1 Các thuật ngữ thuần túy chuyên môn
Thuật ngữ thuần túy chuyên môn là các thuật ngữ chỉ ứng dụng trong lĩnh vực pháp lý chứ không ứng dụng ở các lĩnh vực khác. Một số ví dụ về thuật ngữ thuần túy chuyên môn trong lĩnh vực pháp lý như: decree (n): sắc lệnh, mortgage (n): văn tự cầm cố, sub-letting: cho thuê lại (một ngôi nhà, một căn hộ) mà mình là người thuê, deem (v): cho rằng, premises (n): cơ ngơi, tenant: chủ nhà, chủ đất, lease (n): hợp đồng cho thuê (nhà, đất), landlord: chủ nhà.
4.1.5.2 Các thuật ngữ bán chuyên môn
Các từ ngữ của thuật ngữ bán chuyên môn thuộc về từ vựng hàng ngày có thêm nghĩa trong ngữ cảnh pháp lý. Vì vậy, các từ ngữ này là từ đa nghĩa (polysemic), khó nhận ra nghĩa chính xác của chúng nếu không dựa vào ngữ cảnh mà chúng xuất hiện. Một vài ví dụ về các thuật ngữ bán chuyên môn như: assignment: nhiệm vụ (phổ thông*)/hành động chuyển nhượng (pháp lý), maintenance: sự duy trì, bảo quản/tiền chu cấp (pháp lý), consideration: sự suy xét/tiền thưởng, tiền công (pháp lý), construction: việc xây dựng/sự giải thích (pháp lý), prefer: ưa thích/buộc (tội) (pháp lý), title: tước vị, danh hiệu/quyền hoặc yêu sách đối với sở hữu tài sản (pháp lý). Xin xem một số ví dụ mà trong đó các thuật ngữ bán chuyên môn xuất hiện trong ngữ cảnh pháp lý.
(8) The author assigns the copyrights to the publisher.
(Tác giả chuyển nhượng quyền tác giả cho nhà xuất bản.)
(9) He has to pay maintenance to his ex-wife.
(Anh ta phải chi tiền chu cấp cho vợ cũ.)
(10) I will do it for you for a small consideration of ($50).
(Tôi sẽ làm việc đó cho anh với số tiền công ít ỏi là 50 đô la.)
(11) The sentence does not bear such a construction.
(Câu này không thể giải thích như thế được.)
(12) We haven’t enough evidence to prefer charges.
(Chúng ta không đủ chứng cớ để buộc tội.)
(13) Has he any title to the land?)
(Anh ta có quyền gì đối với đất đai đó không?
4.1.6 Sự lập lại thường xuyên các từ ngữ cụ thể
Tiếng Anh pháp lý thường xuyên lập lại các từ ngữ cụ thể thay vì dùng, ví dụ các quy chiếu đại từ hoặc các loại phép trùng lập (anaphora) khác. Trong ví dụ sau đây, ta sẽ thấy từ “chair” (chủ tịch) lập lại chín lần và từ “vice-chair” (phó chủ tịch) bốn lần trong tổng số 120 từ.
(14) Powers of vice-chair 11. Where – (a) a member of a Board is appointed to be a vice-chair either by the Assembly or under regulation 10, and (b) the chair of the Board has died or ceased to hold office, or is unable to perform the duty of chair owing to illness, absence from England or Wales or any other cause, the vice-chair shall act as chair until the new chair is appointed or the existing chair resumes the duties of chair, as  the case may be; and references to the chair in Schedule 3 shall, so long as there is no chair able to perform the duties of chair, be taken to include references to the vice-chair.
Lý do cắt nghĩa sự lập lại từ vựng là để đảm bảo tính chính xác của quy chiếu và tránh mơ hồ về nghĩa. Xin xem hai ví dụ minh họa sau:
(15). The Lessee shall pay to the Lessor at the office of the Lessor.
(Người thuê nhà sẽ trả tiền cho người chủ cho thuê tại văn phòng của người chủ cho thuê.)
(16). The Lessee shall pay to the Lessor at his office.
(Người thuê nhà sẽ trả tiền cho người chủ cho thuê tại văn phòng của ông ta.)
Nếu ta dùng đại từ sở hữu “his” thay vì từ “lessor” trong cụm từ “at the office of the Lessor”, thì chắc chắn sẽ tạo ra sự mơ hồ về nghĩa. “His” trong trường hợp này làm cho người đọc/người dịch khó quyết định chính xác từ nào (lessee/lessor) là đại từ đang nói đến.
4.1.7 cụm giới từ
Bên cạnh việc việc lập lại các từ ngữ nói trên, tiếng Anh pháp lý còn thường xuyên dùng các cụm giới từ có nhiều từ như “in respect of” (về, đặc biệt nói về), “with respect to” (đối với), “in accordance with” (phù hợp với), “in pursuance of” (trong khi thực hiện) “pursuant to” (theo/thực hiện cái gì).
5.2 Các đặc trưng ngữ pháp
5.2.1 Động từ tình thái “shall”
Theo Swan [16], trong các hợp đồng và văn kiện pháp lý, “shall” thường được dùng với chủ ngữ ngôi thứ ba để chỉ bổn phận (obligations) và nghĩa vụ (duties). Brown và Rice [3] cho rằng “shall” được dùng với nghĩa hướng dẩn nhưng cũng lưu ý rằng một số nhà dự thảo pháp lý cho rằng việc dùng “shall” với nghĩa hướng dẩn nên tránh vì dể gây ra sự lúng túng (cho người đọc).
(17) The hire shall be alresponsible for maintenance of the vehicle.                
(18) The tenant shall not sub-let the whole or part of the premises.
(19) Notice of appeal shall be filed within 28 days.
5.2.2 Các đại từ vô nhân xưng
Văn phong tiếng Anh pháp lý tránh dùng đại từ nhân xưng (‘you’, ‘we’, ‘I’) nên ta có thể bắt gặp nhiều câu dùng chủ  vô nhân xưng như: “no one”, “everyone”...
(20) No one may be subjected to slavery, servitude or forced labour.
(21) Everyone has the right of access to a) any information held by the state and b) any information that is held by another person, and that is required for the exercises or protection of any rights.
5.2.3 Dạng bị động                                                                                                             
Một đặc trưng nổi bật của tiếng Anh pháp lý là việc sử dụng thường xuyên các động từ ở dạng bị động (is agreed, is made, shall be construed and governed, is construed or interpreted). Cấu trúc bị động chuyển một chủ ngữ sang vị trí tân ngữ có giới từ vì vậy cho phép loại bỏ tác nhân (Lightning struck the house/The house was struck by lightning/The house was struck). Finegan [7] nhận xét trong tiếng Anh pháp lý cả cấu trúc bị động không tác nhân (không có cụm từ “by”) lẫn cấu trúc bị động có tác nhân (có cụm từ “by”) đều phổ biến. Theo Williams [17] gần ¼ các cấu trúc động từ có ngôi số trong tiếng Anh pháp lý theo tục lệ (prescriptive legal English) có dạng thức bị động. Trong đoạn văn sau, ta có thể thấy bốn cấu trúc động từ kề nhau dùng ở bị động:
(22)The acronym EURES shall be used exclusively for activities within EURES. It shall be illustrated by a standard logo, defined by a graphic design scheme. The logo shall be registered as a Community trade mark at the Office for Harmonization in the Internal Market (OHIM). It may be used by the EURES members and partners*.
5.2.4 Danh hóa
Theo Tiersma (1999) và Jackson (1995) [dẫn theo Williams ,17,115] các nhà dự thảo thường dùng tới danh hóa tức là tiến trình một từ ngữ ngữ pháp (thường là một ngữ động từ) được biến thành một cụm danh từ, ví dụ, to amend> to make an amendment. Danh hóa là những từ có hậu tố như: -ion, -tion, -ment, -ent, -ance, -ence, -ancy, -ency. Ví dụ, advance > advancement, arrange > arrangement, complete > completion, complex > complexity, decide > decision...
(23) An amendment to the Constitution of Canada may be made by proclamation issued by the Governor General.
(24) If the board holds a meeting (meets) on Friday, it will probably come to the conclusion (conclude) that the time has come to take action (act).
(25) No restriction may be placed on the exercise of these rights other than those imposed in comformity with the law...
5.2.5 Mệnh đề quan hệ được rút gọn (reduced relative clause)
Theo Finegan [7], một đặc trưng khác liên quan đến ngữ pháp trong tiếng Anh pháp lý là việc thường xuyên sử dụng mệnh đề rút gọn mà trong đó quan hệ đại từ và hình thức động từ “be” thường không xuất hiện trong mệnh đề. Những ví dụ sau cho thấy các từ bị lược bỏ trong ngoặc đơn.
(26) Loan (that is) secured.
(27) Rules and regulations (that are) promulgated thereunder.
(28) Paragraphs, clauses, or provisions (that are) so construed or interpreted.
 Ngoài các đặc trưng chính nêu trên, tiếng Anh pháp lý còn dùng các câu dài, phức tạp mà ít dùng tới phép chấm câu và đặc biệt thường viết hoa các con chữ quan trọng và cần làm rỏ (xin xem hai phần này ở phần kết luận).
6. Kết luận
Với một phạm vi hẹp của một tờ báo nhưng tác giả bài báo này hy vọng rằng các nghiên cứu sơ lược về đặc trưng chính của tiếng Anh pháp lý có thể sẽ hữu ích cho sinh viên học ngoại ngữ cũng như sinh viên luật. Một lần nữa xin nêu bật lại các đặc trưng của tiếng Anh pháp lý lồng trong ba văn bản về các điều khoản hợp đồng thương mại sau đây [3,103], được trích trong cuốn sách học tiếng Anh chuyên ngành Luật (xin chú ý các từ gạch dưới, kèm theo các từ này là các con số nêu đặc trưng chính của thuật ngữ tiếng Anh pháp lý.)
1.     This Agreement1 and benefits and advanntages2 herein3 contained are personal to each Member1 and shall4 not be sold, assigned or transferred2 by the Member1.
2.     Lessor1,5,6 shall4 not be liable for loss of or damage to any  property left, stored, or
transported2 by Hirer1 or any other person in or upon2 Vehicle either before or after the return thereof 3 to Lessor1,5. Hirer hereby3 agrees to hold2 Lessor1,5 harmless from2, and indemnify5 Lessor against all claims based on or arising out of 2 such loss or damages unless caused by the negligence of Lessor1,5,7.
                                                       
3.     Title5 to property in the goods shall4 remain vested in2 the Company1,6 (notwithstanding3 the delivery of the same to the Customer1,6) until the price of the Goods1 comprised in the contract and all the other money due from the Customer1,6 to the Company1 on any other account has been paid in full7.

                     Nguồn: [dẫn theo Brown & Rice trong “Professional English in Use”, 3]
1Viết hoa các con chữ để nhấn mạnh các thuật ngữ quan trọng và cần nêu rỏ
2Dùng biệt ngữ pháp lý, kể cả việc dùng cặp từ đồng nghĩa, hoặc ba từ đồng nghĩa
3Dùng các từ cổ, thường ít khi dùng trong tiếng Anh phổ thông
4“Shall” được dùng với nghĩa “bổn phận”/”nghĩa vụ”
5Dùng từ chuyên môn
6Tránh dùng đại từ
7Dùng câu dài, không sử dụng phép chấm câu
Xin mượn lời nhận xét của Mellinkoff để thay lời kết cho bài báo. “Nghề luật là nghề của từ ngữ”.
Phụ lục I: các từ Latinh thường gặp trong văn bản pháp lý
1.     ad hoc/ adhoc: chỉ dùng cho việc này
2.     ad referendum: có sự trưng cầu ý kiến
3.     affidavit: bản khai làm chứng
4.     bona fide: thiện ý, trung thật
5.     caveat: giấy (sự) báo trước
6.     de facto: tồn tại trên thực tế
7.     de jure: theo quyền hạn, theo luật pháp
8.     et cetera (etc.): vân vân
9.     ex acquo et Bono: công bằng
10.                         exempli gratia (e.g): ví dụ
11.                         ex parte (ex p.): của một bên, từ một bên
12.                         id est (i.e.): tức là
13.                         in camera: (vụ án) không công khai, riêng tư
14.                         in curia: công khai (tại tòa)
15.                         in situ: ở vị trí ban đầu, đúng chỗ của nó
16.                         inter alia: trong số các điều khác như
17.                         ipso facto: chỉ do chính sự việc ấy
18.                         leit motiv: chủ đề nhất quán
19.                         mutatis-mutandis: với những thay đổi cần thiết từng chi tiết
20.                         per pro: thay mặt cho
21.                         per se: tự nó
22.                         prima facie: thoạt nhìn, ngay khi xuất hiện
23.                         propio moto: theo riêng mình
24.                         pro rata: theo tỷ lệ
25.                         quasi: y như thể
26.                         sub judice: vụ đương cứu
27.                         ultra vires: lạm quyền, không được phép
28.                         videlicet (viz): tức là
Phụ lục II: các từ ngữ cổ và từ ngữ ít sử dụng
1.     the aforementioned/the foregoing: vừa nêu, vừa đề cập
2.     the undermentioned: dưới đây
3.     hereafter: sau đây, dưới đây
4.     hereby: bằng cách này
5.     herein: trong văn kiện này, tại đây
6.     hereof: về điều này
7.     hereto: theo điều này
8.     herewith: cùng với, kèm theo đây
9.     notwithstanding: cho dù
10.                       thereafter: sau đó
11.                       thereby: bằng cách đó
12.                       therein: trong đó
13.                       thereof: về điều đó
14.                       thereto: theo đó
15.                       therewith: với điều đó
Phụ lục III: các cặp từ đồng nghĩa/gần đồng nghĩa thường gặp trong văn bản pháp lý
      * Các cặp từ đồng nghĩa (danh từ)
1.     act and deed: hành vi
2.     cost and expense: chi phí
3.     full force and effect: có hiệu quả
4.     kind and character: loại
5.     kind and nature: loại
6.     law and acts: đạo luật
7.     power and authority: quyền lực
8.     terms and conditions: điều khoản và điều kiện
* Các cặp từ đồng nghĩa (động từ)
1. alter, amend, modify, or change: sửa đổi, chỉnh lý
2. assign and transfer: chuyển nhượng
3. assume and agree: đồng ý
4. authorise and empower: ủy quyền
5. bind and obligate: bắt buộc
6. cover, embrace and include: bao gồm
7. finish and complete: hoàn thành
8. furnish and supply: cung cấp
9. give and grant: cho, cấp
10. give, devise, and bequeath: để lại
11. have and obtain: có được
12. have and keep: giữ
13. hold and maintain: duy trì, giữ gìn
14. make and conclude: duy trì, giữ
15. make and enter: ký kết và bắt đầu thực hiện
16. modify and change: thay đổi
17. request and require: yêu cầu, đòi hỏi
18. understood and agreed: được tin là đồng ý
* Các cặp từ đồng nghĩa/gần đồng nghĩa (tính từ)
1. deemed and considered: được xem lại
2. due and payable: phải trả
3. effective and valid: có hiệu lực
4. fit and suitable: thích hợp
5. final and conclusive: sau cùng
6. full and complete: đầy đủ
8. known and described as: được mô tả như
9. null and void: không có giá trị
10. sole and exclusive: độc quyền, duy nhất
11. true and correct: đúng và chính xác
* Các cặp từ đồng nghĩa/gần đồng nghĩa (giới từ)
1. by and between: giữa (các bên)
2. by and under: bởi (do)
3. by and with: với (và)
4. for and during the term of: trong thời hạn
5. from and after: kể từ
6. of and concerning: về
7. over and above: trên
8. save and except: trừ, ngoại trừ
9. under and subject to: theo
10. with regard to and in connection with: về, có liên quan về
* Các cặp từ đồng nghĩa/gần đồng nghĩa (trạng từ)
1. entirely and completely: hoàn toàn
2. willfully and knowingly: có chủ tâm, có ý
                  Nguồn: [dẫn theo Hoa Tôn Quang trong “diendandichthuat.info”, 9]  
                                                              Sách Tham Khảo
[1] Alcaraz, E & Huges, B, (2002), Legal Translation Explained. Manchester: St. Jerome. Publishing.
[2] Bouharaoui, A. (2011), Some Lexical Features of Legal Language. Truy cập từ www.translationdirectory.com/articles/article1763.php
[3] Brown, G. D & Rice, S, (2007), Professional English in Use Law, CUP.
[4] Cao Xuân Thự (2011), Những Thuật Ngữ La-tinh Trong Công Ước của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển. Truy cập ngày 2/11/2011 từ biengioilanhtho.gov.vn/.../nhungthuatngulatintro...
[5] Close, RA (1975), A Reference Grammar for Students of English. Longman.
[6] Dave, Sandeep (2002), Features-Plain Language and Law. Truy cập ngày 23/11/2011 từ www.llrx.com/features/plainlanguage.htm
[7] Finegan, Edward (2004), Language: Its Structure and Use, Thomson wadsworth.
[8] Gifis, S.H (2008), Dictionary of Legal Terms, NXB Barron’s.
[9] Hoa Tôn Quang, (2011), Từ và Cụm Từ Thường Gặp Trong Hợp Đồng Tiếng Anh. Truy cập từ dichthuatvietnam.info>...> Pháp lý (Legal terms) ngày 9/11/2011.
[10] Maltzev, V. A, (1984), Essays on English Stylistics, Vysheishaya Shkola Publishers.
[11] Mckay, W R. & Charlton, H E, (2005), Legal English: How to Understand and Master the Language of Law. Longman.
[12] Nguyễn Ngọc Điệp, (1997), 1200 Thuật Ngữ Pháp Lý Việt Nam, NXB Thành Phố HCM.
[13]Phạm Minh, (2001), Pháp Luật Kinh Doanh Theo Hiệp Định Thương Mại Việt Nam-Hoa Kỳ. NXB Thống Kê.
[14] Richards & et al. (1999), Dictionary of Language Teaching & Applied Linguistics, Longman.
[15] Schane, Standford, (2011), Language and the Law. Truy cập ngày 23/11/2011 từ ling.ucsd.edu/courses/ling105/introduction.pdf
[16] Swan, Michael, (2009), Practical English Usage. Oxford University Press.
[17] Williams, C (2011), Legal English and Plain English. Truy cập ngày 27/11/2011 từ www.scienzepoliche.uniba.it/area_docenti/.../116_Williams.pdf
[18] Zurcher & Smith, (1966), Dictionary of American Politics, Barnes & Noble.

ĐỂ VIẾT “PHẦN TÓM TẮT” CỦA MỘT BÀI BÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC BẰNG TIẾNG ANH



ĐỂ VIẾT “PHẦN TÓM TẮT” CỦA MỘT BÀI BÁO NGHIÊN CỨU KHOA HỌC BẰNG TIẾNG ANH
WRITING SCIENTIFIC RESEARCH ARTICLE “ABSTRACT SECTION” IN ENGLISH
                                   
  Nguyễn Phước Vĩnh Cố                                    Lê Vũ
Trường Đại học Ngoại ngữ, ĐHĐN    Trường Cao Đẳng Công Nghệ, ĐHĐN
                                                    TÓM TẮT
Là một bộ phận quan trọng và không thể thiếu được trong một bài báo nghiên cứu khoa học, phần tóm tắt đã thu hút sự chú ý rất có ý nghĩa từ giới học thuật. Dù đã có một số nghiên cứu trước đó về phần tóm tắt của một bài báo nghiên cứu khoa học ở tiếng Anh (tự nhiên cũng như xã hội). Tuy nhiên, có rất ít công trình nghiên cứu về đề tài này ở cộng đồng học thuật Việt nam. Mục đích chính của nghiên cứu này là mô tả các đặc trưng ngôn ngữ trong phần tóm tắt của một bài báo nghiên cứu khoa học bằng tiếng Anh và cung cấp một số mô hình mẫu tóm tắt (mô hình tóm tắt gồm năm thành phần và mô hình tóm tắt gồm ba thành phần) dựa vào nghiên cứu của Weissberg & Buker (1990) và và hai loại tóm tắt (tóm tắt mô tả và tóm tắt thông tin) do Svobodova & cộng sự (2000) phân tích. Hy vọng rằng bài báo có thể giúp cho sinh viên ngoại ngữ và sinh viên chuyên ngành hiểu biết tốt hơn cấu trúc thành phần của một tóm tắt và loại tóm tắt nhằm viết đúng một tóm tắt của một bài báo nghiên cứu khoa học bằng tiếng Anh.
Từ khóa: bài báo; nghiên cứu khoa học; tóm tắt; thì của động từ; dạng của động từ.
                                                     ABSTRACT
As an important and integral part of the scientific research paper, the abstract has attracted very significant attention from the academic world. Although some previous work has been devoted to scientific research article abstract section in English (in hard sciences as well as on social sciences). However, very few studies have been done on this topic in Vietnamese academic community. The main aim of this study is to describe the linguistic features in scientific research abstract sections in English and to provide some sample abstract models (five-element model and three-element model) based on Weissberg & Buker’s work (1990) and two types of abstract (descriptive and informative abstracts) analysed by Svobodova & et al. (2000). It is hoped that this article may help students of foreign languages and ESP students better understand the element structures of an abstract and types of abstract and to write a proper scientific research article
Key words: article/paper; scientific research; abstract; verb tense; verb voice.

1. Phần giới thiệu
Kể từ khi công trình nghiên cứu đầu tiên của Swales (1981; 1990) về phân tích phân đoạn văn bản trong phần giới thiệu của một bài báo khoa học, đã có nhiều nhà nghiên cứu phân tích các phần khác nhau trong một bài báo nghiên cứu khoa học (NCKH), “phần giới thiệu” (Cooper,1985; Crookes, 1986), “phần kết quả” (Thompson, 1993; Brett, 1994), “phần thảo luận” (Hopkins & Dudley-Evans, 1988; Peacock, 2002) và ngay cả “phần tóm tắt” của một bài báo nghiên cứu (Melander, Swales & Fredrickson, 1998; Salager-Meyer, 1990,1992) [dẫn theo Samraj,9]. Dù có nhiều nhà ngôn ngữ học ứng dụng nghiên cứu các thành phần của một bài báo NCKH và đã có một vài nghiên cứu về “phần tóm tắt”. Tuy nhiên, cho đến nay, “phần tóm tắt” viết bằng tiếng Anh ít được  chú ý trong cộng đồng học thuật Việt nam. Vì vậy, bài báo trình bày, mô tả các đặc trưng ngôn ngữ như: thì và thể của động từ, dạng của động từ, các động từ tình thái, động từ thăm dò và từ vựng. Bài báo cũng cung cấp và phân tích các mô hình năm thành phần và ba thành phần của Weissberg & Buker (1990) và hai loại tóm tắt của Svobodova và cộng sự (2000). Tác giả hy vọng rằng bài báo có thể có ích cho sinh viên ngoại ngữ và sinh viên chuyên ngành và có thể được dùng để dạy họ cách viết và đọc một tóm tắt trong bài báo NCKH.
2. Phần tóm tắt là gì?
Là phần nằm sau tựa đề (title) và nằm trước phần giới thiệu (introduction), phần tóm tắt-như tên gọi- tóm tắt các nội dung chính của một bài báo, cung cấp cho độc giả “cái cổng vào” một công trình NCKH. Theo Cleveland (1983) [dẫn theo Orasan, 8], “phần tóm tắt tóm lược các nội dung thiết yếu của một hồ sơ kiến thức cụ thể và là sự thay thế đúng nghĩa của tài liệu đó”. (an abstract summarises the essential contents of a particular knowledge record and is a true surrogate of the document.) Graetz (1985) [dẫn theo Orasan, 8] cũng có một định nghĩa tương tự, “phần tóm tắt là một công cụ tiết kiệm thời gian mà có thể được dùng để tìm các phần cụ thể của bài báo mà không cần phải đọc nó; ... biết trước cấu trúc sẽ giúp cho độc giả hiểu được bài báo; ... nếu một tóm tắt đủ bao quát, nó có thể thay thế bài báo” (“the abstract is a time saving device that can be used to find particular parts of the article without reading it; ... knowing the structure in advance will help the reader to get into the article; ... if comprehensive enough, it might replace the article”. Tuy nhiên, định nghĩa sau đây của Johnson (1995) [dẫn theo Orasan, 8] tuy rất đơn giản nhưng lại phù hợp với chức năng phần tóm tắt của bài báo NCKH, “sự trình bày súc tích về nội dung của một tài liệu cho phép độc giả xác nhận mối liên quan của nó với thông tin cụ thể” (a concise representation of a document’s contents to enable the reader to determine its relevance to a specific information).
3. Cấu trúc phần tóm tắt của một bài báo NCKH
Các thành phần trong phần tóm tắt thường tùy thuộc vào mổi chuyên ngành. Tuy nhiên, theo Weissberg & Buker [13], các tóm tắt của một bài báo NCKH thường có 5 phần sau:
- một số thông tin nền
- mục đích của nghiên cứu và phạm vi của nó
- một số thông tin về phương pháp được dùng trong nghiên cứu
- kết quả nghiên cứu quan trọng nhất
- phát biểu về kết luận/khuyến nghị
4. Trật tự các thông tin trong phần tóm tắt
Weissberg & Buker [13] chia trật tự thông tin trong phần tóm tắt làm hai phần:
1) cấu trúc năm thành phần tiêu biểu trong một tóm tắt (xin xem mục 2).
2) cấu trúc ba thành phần trong một tóm tắt rút gọn gồm:
a. mục đích và phương pháp nghiên cứu.
b. kết quả nghiên cứu.
c. kết luận và khuyến nghị*
           * không bắt buộc
4.1 Một tóm tắt mẫu gồm năm thành phần tiêu biểu
Sau đây là một tóm tắt mẫu thuộc lĩnh vực khoa học máy tính. Lưu ý loại thông tin và trật tự của thông tin được trình bày ở mục 2.

     COMPOSING LETTERS WITH A SIMULATED LISTENING TYPEWRITER

Abstract. 1With a listening typewriter, what an author says would be automatically recognized and displaced in front of him or her. 2However, speech recognition is not yet advanced enough to provide people with a reliable listening typewriter. 3An aim of our experiments was to determine if an imperfect listening typewriter would be useful for composing letters. 4Participants dictated letters either in isolated words or in consecutive word speech. 5They did this with simulations of listening typewriters that recognized either a limited vocabulary or an unlimited vocabulary. 6Results indicated that some versions, even upon first using them, were at least as good as traditional methods of handwriting and dictating. 7Isolated word speech with large vocabularies may provide the basis for a useful listening typewriter.
        Nguồn: dẫn theo Weissberg & Buker [13] trong “Writing Up Research” tr. 185
    
4.2 Loại thông tin và trật tự thông tin của tóm tắt mẫu nêu trên
1. Một số thông tin nền: câu 1 & 2
2. Mục đích của nghiên cứu và phạm vi của nó: câu 3
3. Một số thông tin về phương pháp được dùng trong nghiên cứu: câu 4 & 5
4. Kết quả nghiên cứu quan trọng nhất: câu 6
5. Phát biểu về kết luận và khuyến nghị: câu 7
4.3 Một tóm tắt rút gọn gồm ba thành phần
Sau đây là một tóm tắt được rút gọn của một báo cáo nghiên cứu thuộc lĩnh vực thương mại và quốc tế nêu những khó khăn về việc đọc các sách hướng dẫn cỡ nhỏ về thuế thu nhập.

THE READABILITY OF INDIVIDUAL INCOME TAX INSTRUCTION BOOLETS IN SOUTH CAROLINA AND OTHER SOUTHEASTERN STATES

Abstract. 1To determine the understandability of individual income tax booklets, a Reading Ease score was calculated for the 1977 Federal income tax return form 1040 and tax forms of nine southeastern states. 2The instruction booklets of all states except Virgina were found to be at a reading level higher than the median educational level of the average citizen-taxpayer in those states. 3The South Carolina booklet was three grade levels above the median educational level for the state. 4The Federal instruction booklet was easiest to read, falling four grade levels below the median education level of U.S citizens. 5If an equitable state income tax system is to be maintained, actions must be taken to reduce the disparity between median education levels and the readability of state income tax instruction booklets.
      Nguồn: dẫn theo Weissberg & Buker [13] trong “Writing Up Research” tr.188
4.4 Loại thông tin và trật tự thông tin của tóm tắt rút gọn
1. Mục đích và phương pháp nghiên cứu: câu 1
2. Kết quả nghiên cứu: câu 2, 3 & 4
3. Kết luận: câu 5
5. Các loại tóm tắt trong bài báo NCKH
Theo Svobodova và cộng sự [10] có 2 loại tóm tắt:
a) tóm tắt mô tả (descriptive abstract): loại tóm tắt này cung cấp một danh sách các nội dung về những gì sẽ có trong bài báo, những gì tác giả sẽ đề cập/cố gắng chứng minh trong bài báo, chứ không phải tóm tắt về các kết quả nghiên cứu.
b) tóm tắt thông tin (informative abstract): loại tóm tắt này không những chỉ mô tả những gì được đề cập trong bài báo mà còn tóm tắt các thông tin chính trong thực tế như phần phương pháp và vật liệu, kết quả và kết luận/khuyến nghị.
6. Sự khác biệt về văn phong giữa tóm tắt mô tả và tóm tắt thông tin
6.1 Một tóm tắt mô tả và những điểm cần lưu ý

AN OVERVIEW OF ROTATING STALL AND SURGE CONTROL FOR AXIAL FLOW COMPRESSORS.

Abstract A. Modelling and control for axial flow compression systems have received great attention in recent years. The objectives are to suppress rotating stall and surge, to extend the stable operating range of the compressor system, and to enlarge domains of attraction of stable equilibria using feedback control methods. The success of this research field will significantly improve compressor performance and thus future aeroengine performance. This paper surveys the research literature and summarises the major developments in this active research field, focusing on the modelling and control perspective to rotating stall and surge for axial flow compressors.
Keywords: axial flow, rotating stall, surge
        Nguồn: dẫn theo Svobodova & cộng sự [10] trong “Writing in English” tr. 230
*Những điểm cần lưu ý:
- Mục đích:
Tóm tắt A là một tóm tắt mô tả: nó kể cho độc giả những gì tác giả thực hiện trong bài báo nhưng không phải các ý tưởng thực sự của họ.
- Cấu trúc:
Tóm tắt này bắt đầu bằng lời giải thích thuộc lĩnh vực nghiên cứu, mục đích của nó và kết quả tiềm năng của nghiên cứu và rồi chuyển sang nêu ý định của tác giả về việc xem xét tài liệu nghiên cứu và tóm tắt các phát triển chính.
- Sử dụng ngôn ngữ:
   - chỉ dùng thì hiện tại (kể cả thì hiện tại hoàn thành và tương lai)
   - dùng các từ ngữ học thuật có tính phổ thông: ví dụ, have received great attention”; “the objectives are...”; “this paper surveys...and summarises..., focusing on...”
Cả hai loại tóm tắt đều dùng câu mở rộng để cô đọng thông tin. Ở tóm tắt A, tác giả dùng “The objectives are to..., to..., and to...
6.2 Một tóm tắt thông tin và những điểm cần lưu ý

          CD46 IS A CELLULAR RECEPTOR FOR HUMAN HERPESVIRUS 6
Abstract B. Human herpesvirus 6  (HHV6) is the etiologic agent of exanthum subtium, causes opportunistic infections in immunocompromised patients; and has been implicated in multiple sclerosis and in the progression of AIDS. Here, we show that the two major HHV-6 groups (A and B) use human CD46 as a cellular receptor. Downregulation of surface CD46 was documented during the course of HHV-6 infection. Both acute infection and cell fusion mediated by HHV-6 were specially inhibited by a monoclonal antibody to CD46; fusion was also blocked by soluble CD46. Nonhuman cells that were resistant to HHV-6 fusion and entry became susceptible upon expression of recombinant human CD46. The use of ubiquitous immunoregulatory receptor opens novel perspectives for understanding the tropism and pathogenicity of HHV-6.
       Nguồn: dẫn theo Svobodova & cộng sự [10] trong “Writing in English” tr. 24
*Những điểm cần lưu ý:
- Mục đích:
Tóm tắt B là một tóm tắt thông tin: tóm tắt này nêu các chi tiết về những gì đã được nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu là gì và những gì có thể xảy ra trong tương lai.
- Cấu trúc: tóm tắt B trước hết định nghĩa HHV-6 và giải thích tầm quan trọng của nó; tóm tắt này nêu mục đích nghiên cứu (we show that...), phương pháp (Downregulation) và kết quả; nó kết luận bằng một phát biểu về viễn ảnh tương lai như là kết quả nghiên cứu.
- Sử dụng ngôn ngữ:
- dùng thì hiện tại đối với những phát biểu chung chung về những gì bài báo thực hiện.
- dùng thì quá khứ để mô tả quy trình và kết quả nghiên cứu.
- gồm một số lượng dày đặc thuật ngữ chuyên ngành liên quan đến chủ đề so với tóm tắt mô tả cùng với các động từ chuyên ngành để mô tả chính xác những gì đã xảy ra trong nghiên cứu (inhibited: ức chế); (blocked: tắc nghẽn)... v.v.
- Tóm tắt thông tin cũng dùng câu mở rộng để cô đọng thông tin. Ví dụ, câu mở đầu “ Human herpesvirus 6 is ... , causes ... , and has been ...”.
- Lưu ý việc sử dụng câu thụ động khi mô tả  nghiên cứu trong tóm tắt thông tin.
7. Các đặc trưng ngôn ngữ trong phần tóm tắt
7.1 Sử dụng ngôi thứ ba số ít
Đặc trưng tiêu biểu nhất về xưng hô trong phần tóm tắt của bài báo NCKH là việc sử dụng thường xuyên ngôi thứ ba số ít để chỉ tác giả thay vì ngôi thứ nhất (I/we) như: “The writer”, “The author”, “The researcher” hoặc dùng cấu trúc chủ động vô nhân xưng như: “The paper deals with...”, “The results reveal/indicated...”.
7.2 Sử dụng cấu trúc thụ động
Dùng cấu trúc thụ động trong phần tóm tắt của bài báo NCKH cũng là một cách tránh dùng ngôi thứ nhất số ít. Ví dụ, “It can be concluded that...” thay cho “We can conclude that...”. “It is assumed that...” thay cho “We can assume that...”
7.3 Sử dụng thì (tense) và thể (aspect)
Các phân biệt về thì và thể cũng có thể mang thêm các nét nghĩa tinh tế trong diễn ngôn khoa học. Svobodova và cộng sự [10] cho rằng thì hiện tại được dùng cho những phát biểu khái quát về những gì bài báo thực hiện còn thì quá khứ được dùng để mô tả quy trình và kết quả nghiên cứu. Khi nói đến việc sử dụng thì trong các tóm tắt học thuật giữa tiếng Anh và tiếng Brazin, Johns [dẫn theo Mona Baker,1] chỉ ra rằng một số động từ đề cập đến những gì được nêu trong chính bài báo học thuật thì ông gọi những động từ này là các động từ trình bày (indicative verbs), còn những động từ khác đề cập tới những gì đã được thực hiện trong nghiên cứu mà bài báo báo cáo thì ông gọi là động từ thông tin (informative verbs). Johns gợi ý rằng các động từ như “present” (trình bày), “mention” (đề cập), “propose” (đề xuất) và “refer to” (đề cập) là các động từ trình bày (theo cách gọi của Johns) liên quan đến những gì tác giả đang thực hiện trong chính bài báo thì thường được dùng ở thì hiện tại (present tense) còn những động từ như “determine” (xác định), “record” (ghi/chỉ), “select” (tuyển chọn), và “detect” (phát hiện) vốn liên quan đến công trình nghiên cứu thì thường dùng ở thì quá khứ (past tense). Johns lưu ý rằng “the results of an experiment are analyzed” báo cáo nội dung bài báo, còn “they were analyzed” báo cáo một trong những phương thức được tiến hành trong công trình nghiên cứu. Trong các tóm tắt học thuật (khoa học và công nghệ) trong tiếng Anh Johns cũng gợi ý rằng thể hiện tại hoàn thành (present perfect) được dùng cụ thể để chỉ công trình nghiên cứu của các nhà khoa học khác. Ví dụ, “It is proposed that ...” gợi ý người viết phần tóm tắt đang đề xuất, còn “It has been proposed that ...” gợi ý rằng một ai đó đề xuất chứ không phải người viết phần tóm tắt. Theo Weissberg & Buker [13], các thì của động từ được dùng để viết các câu trong phần tóm tắt đều liên quan trực tiếp đến các thì của động từ mà ta đã dùng trong các phần tương ứng trước đó trong công trình nghiên cứu hay bài báo NCKH. Ví dụ, câu thông tin nền trong phần tóm tắt tương tự như câu thông tin nền trong phần giới thiệu: cả hai đều được viết ở thì hiện tại (present tense).
Trong phần tóm lượt, thì hiện tại thường được dùng ở phần thông tin nền và kết luận; thì quá khứ dùng trong các phần: mục đích (quá  khứ hoặc hiện tại hoàn thành), phương pháp, kết quả.
7.3.1 Thì hiện tại trong phần thông tin nền và kết luận
- One of the basic principles of communication is that the message should be understood by the intended audience (thông tin nền).
- The results suggest that the presence of unique sets of industry factors can be used to explain variation in economic growth (kết luận).
7.3.2 Thì quá khứ được dùng trong các phần: mục đích, phương pháp và kết quả
- In this study the readability of tax booklets from nine states was evaluated (mục đích).
- Children performed a 5-trial task (phương pháp).
- Older workers surpassed younger ones in both speed and skill jobs (kết quả).
7.3.3 Hiện tại hoàn thành trong phần mục đích
- Net energy analyses have been carried out for eight trajectories which convert energy source into heated domestic water (mục đích).
7.4 Sử dụng các động từ tình thái (modal verbs) và động từ thăm dò (tentative verbs)
Dùng động từ tình thái như “will”, “would”, “should”, “may”, “could”... trong câu kết luận (phần tóm tắt) gợi ý một thái độ thăm dò hoặc khiêm tốn của tác giả bài báo. Các động từ “thăm dò” như “suggest” (gợi ý), “recommend” (khuyến nghị/đề nghị), “propose” (đề xuất), “imply” (gợi ý)... cũng được khuyên dùng trong bài báo để người viết không quá chủ quan về các ứng dụng, lý thuyết cũng như thực hành khi nêu giá trị công trình khoa học.
- The results suggest [động từ thăm dò] that the presence or absence of unique sets of industry factors can [động từ tình thái] be used to explain growth variation in both the center and the periphery of the industrialized region.
- We recommend [động từ thăm dò]that a moderate level of indentation be used to increase program comprehension and user satisfaction.
8. Kết luận
Dù chỉ trình bầy hai mô hình mẫu tóm tắt (mô hình năm thành phần và mô hình hai thành phần) của Weissberg & Buker (1990) và hai loại tóm tắt (tóm tắt mô tả và tóm tắt thông tin) của Svobodova & cộng sự (2000) nhưng bài báo đã miêu tả bức tranh “phần tóm tắt” với các đặc trưng ngôn ngữ khá rõ nét. Tuy nhiên để có bức tranh “phần tóm tắt” đầy đủ nhất, cần phải có các nghiên cứu đối chiếu giữa hai ngôn ngữ (Anh-Việt) và phân tích thể loại. Các nghiên cứu trong tương lai cần chú trọng vào việc phân tích phần tóm tắt theo các chuyên ngành để thấy được khác biệt giữa hai ngôn ngữ). Hy vọng rằng qua các đặc trưng ngôn ngữ của phần tóm tắt được phân tích và các loại thông tin được giới thiệu trong bài báo, sinh viên ngoại ngữ và sinh viên chuyên ngành sẽ nhận những hướng dẫn hữu ích để viết một tóm tắt của bài báo NCKH phù hợp bằng tiếng Anh.


                                                Tài Liệu Tham Khảo
[1] Baker, Mona (1997), In Other Words: A Coursebook on Translation. Routledge.
[2] Johns, T (1991), It Is Presented Initially: Linear Dislocation & Interlanguage Strategies in Brazilian Academic Abtracts in English and Portuguese Mimeograph. University of Birmingham.
[3] Nguyễn Minh Thuyết (Chủ biên) & Nguyễn Văn Hiệp (1999), Tiếng Việt Thực Hành. NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội.
[4] Nguyễn Phước Vĩnh Cố (2011), Dạng Thức Xưng Hô và Cấu Trúc Vô Nhân Xưng Trong Diễn Ngôn Khoa Học. Truy cập ngày 25/9/2012 từ https://nguyenphuocvinhco.wordpress.com/2011.
[5] Nguyễn Phước Vĩnh Cố (2012), Để Viết Phần Giới Thiệu Của Một Bài Báo Nghiên Cứu Khoa Học. Truy cập ngày 8/10/2012 từ https://nguyenphuocvinhco.wordpress.com/2011.
[6] Nguyễn Văn Tuấn (2012), Cách Viết Một Bài Báo Khoa Học (phần 1). Truy cập ngày 8/10/2012  từ http://nguyenvantuan.net.
[7] Ngũ Thiện Hùng & Bùi Thị Thu Hà (2007), Tìm Hiểu Một Số Đặc Điểm Diễn Ngôn Phần Tóm Tắt Của Các Bài Báo Kinh Tế Tiếng Anh và Tiếng Việt. Truy cập ngày 28/9/2012 từ www.kh-sdh.udn.vn/zipfiles/hung_nguthien.doc
[8] Orasan. C. (2001), Patterns in Scientific Abstracts, in Proceedings of Corpus Linguistics 2001 Conference, Lancaster University, Lancaster UK. Truy cập ngày 25/9/2012 từ clg.wlv.ac.uk > Publications.
[9] Samraj, B. (2002), Introductions in Research Articles: Variations Across Disciplines. Truy cập ngày 24/7/12 từ samraj_on_introductions(3).pdf
[10] Svobodova & et al. (2000), Writing in English: A Practical Handbook for Scientific and Technical Writers. Truy cập ngày 25/9/12 từ http://w.w.w.atom.uni-mb.si/Stu/filesWriting_in_English.pdf
[11] Swales, J. (1981), Aspects of Article Introductions. Birmingham, UK. The University of Aston, Language Studies Unit.
[12] Swales, J. (2011), Genre Analysis: English in Academic and Research Settings. Cambrigde: Cambrige University Press.
[13] Weissberg, Robert & Buker, Suzanne. (1990), Writing Up Research: Experimental Research Report Writing for Students of English, Prentice Hall Regents.